“Irreducible Complexity”, Phần 1: Một Cái Bẫy Ruồi Bu

Potted Venus flytrap beside a wooden mousetrap outdoors

Minh họa từ video của kênh QualiaSoup

Nhìn vào cấu tạo cái bẫy ở hình trên, ta có thể thấy năm bộ phận của nó có vẻ đều là thiết yếu cho chức năng bắt chuột. Thiếu một cái thì bẫy không kém đi, mà bẫy hoàn toàn không hoạt động luôn. Do đó, theo Michael Behe (giáo sư sinh hóa Đại học Lehigh), cái bẫy chuột là một hệ thống phức tạp tối giản*: “…bao gồm nhiều bộ phận ăn khớp, phối hợp nhịp nhàng cùng thực hiện chức năng cơ bản, trong đó việc loại bỏ bất kỳ bộ phận nào cũng sẽ khiến hệ thống ngừng hoạt động” (Darwin’s Black Box, 1996).

*Irreducible complexity dịch mặt chữ là “sự phức tạp không thể giảm bớt/giản lược được nữa”, mà như vậy thì “cồng kềnh” quá, nên tôi sẽ gọi nó là “phức tạp tối giản” (PTTG).

Darwin’s Black Box, 1996. Ảnh chụp từ kênh Stated Clearly.

Một hệ thống PTTG như vậy không thể được chế tạo dần dà từ phiên bản sơ khai hơn.

“Chức năng của bẫy chuột đòi hỏi phải có đầy đủ mọi bộ phận: bạn không thể bắt được vài con chuột chỉ với tấm đế, rồi thêm lò xo để bắt thêm vài con nữa, hay thêm thanh giữ để bắt thêm vài con nữa. Tất cả các bộ phận phải được lắp đặt hoàn chỉnh trước khi có thể bắt được bất kỳ con chuột nào.” (Mere Creation, 1998)

Ô-kê, vậy thì liên quan gì tới thuyết tiến hóa? Behe nói rằng nếu trong tự nhiên có một hệ thống PTTG thì nó cũng không thể nào do tiến hóa từ từ mà thành, bởi vì cơ quan có tiền thân của nó dù chỉ thiếu một thành phần nhỏ cũng chắc chắn không thể hoạt động. Không hoạt động thì không thể được chọn lọc tự nhiên để tốt hơn, vì chọn lọc tự nhiên chỉ có thể chọn lọc những thứ đã có tác động đến sinh tồn (ý này là tự tôi hiểu, chữ “working” của Behe mơ hồ lắm). Vậy, các hệ PTTG chỉ có thể xuất hiện hoàn chỉnh ngay từ đầu.

Darwin’s Black Box, 1996. Ảnh chụp từ kênh Stated Clearly.

Chính già Darwin trong Nguồn Gốc Các Loài đã viết rằng “Nếu có thể chứng minh được sự tồn tại của bất kỳ cơ quan phức tạp nào mà không thể hình thành từ nhiều biến đổi nhỏ nối tiếp nhau, thì học thuyết của tôi sẽ hoàn toàn sụp đổ”. Và nghe đồn sinh giới có đầy ví dụ như vậy:

  • Roi bơi của vi khuẩn (flagellum): mất một trong hàng chục protein, vi khuẩn không bơi được.
  • Chuỗi phản ứng đông máu: thiếu một thành tố, máu không đông, không giúp con vật sống sót để được chọn lọc.
  • Bọ đánh bom(?) (bombardier beetle): chỉ cần các hóa chất tự vệ trong con bọ sai tỷ lệ một chút, nó sẽ phát nổ (!?)

Với các hệ PTTG, Behe nghĩ mình đã tìm ra “chiếc hộp đen của Darwin”, tiêu đề cuốn sách đã đưa Behe trở thành đại diện tiêu biểu của trường phái chống tiến hóa hiện đại Thiết kế Thông minh (Intelligent Design, ID). ID có vẻ khoa học hơn, trung lập hơn, thông minh hơn những nhà Sáng tạo luận truyền thống bởi họ không chỉ dừng ở việc bới lông tìm vết một điều gì đó thuyết tiến hóa “hem giải thích được” rồi nhảy thẳng tới kết luận rằng Đấng Sáng Tạo cụ thể tạo ra nó. Họ tập trung vào tìm các dấu hiệu của quá trình thiết kế có mục đích của các chủ thể thông minh trong một bộ phận, chức năng, biến đổi thích nghi nào đó, và khẳng định nó phải là do thiết kế mà có.

Cũng như bẫy chuột, những bộ phận, chức năng phức tạp nhất của sinh vật thường đều không thể thiếu một thành tố nào cả, nghĩa là chúng đã tối giản. Và do đó, chúng đã phải được thiết kế nên. Ai thiết kế thì có vẻ là mạnh ai nấy hiểu, miễn không phải tiến hóa.

Minh họa và luận điểm từ video của kênh QualiaSoup.

Giống với rất nhiều lần trước đây người ta tuyên bố đã phát hiện được tử huyệt của Darwin hay ngày tàn của thuyết tiến hóa, thử thách PTTG hóa ra không chí mạng tới vậy. Ngay chính với cái bẫy chuột, ta có thể ngay lập tức bỏ cái đế ra, cắm tất cả thành phần vào mặt đất và nó vẫn sẽ bắt được chuột. Behe bật lại là đó chỉ là thay cái đế bằng một cái đế khác. Không ạ, vì cái bẫy vốn phải để trên một mặt phẳng, nên mặt phẳng đó dù là đất, bàn, hay nền gạch cũng không phải là cái “khác” được thêm vào. Hơn nữa, cái đế có một chức năng cụ thể mà mặt đất không có là giúp cái bẫy có tính cơ động mà không cần phải lắp lại mỗi lần. Đó KHÔNG phải một yêu cầu thiết yếu, không thể lược bỏ của một bẫy chuột. Mất một bộ phận, bẫy chỉ kém hiệu quả đi chứ không hoàn toàn dừng hoạt động. Vậy, chính cái bẫy chuột được con người “thiết kế thông minh” cũng KHÔNG tối giản.

Trong một cuộc tranh luận trên chương trình Firing Line của đài PBS, Kenneth Miller (giáo sư Đại học Brown) đã cho Behe thấy tận mắt là bỏ một bộ phận ra khỏi bẫy chuột và vặn vẹo một chút thì cái bẫy vẫn kẹp như thường. Miller là một Ki-tô hữu, và cũng là một nhà tiến hóa, vì hai điều này vốn không mâu thuẫn.

Giáo sư John H. McDonald của Đại học Delaware còn đi xa hơn với một chùm bẫy chuột có thể hoạt động với 4, 3, 2, và chỉ 1 bộ phận.

Behe phản pháo rằng chỉ cho thấy hệ thống có thể được biến đổi thế nào để vẫn hoạt động sau khi mất bộ phận thì không thể tính là phản biện được PTTG (Ờ, có chứ, vì định nghĩa đã nói là “việc loại bỏ bất kỳ bộ phận nào cũng sẽ khiến hệ thống ngừng hoạt động” mà?). Nếu muốn so sánh tương đương với tiến hóa Darwin thì phải cho thấy cách thức hệ có thể phức tạp dần lên từ từng thành phần một mà xuyên suốt quá trình hệ vẫn duy trì được chức năng chính.

Như mọi nhà khoa học thực thụ khác, McDonald rất thích bị thách. Lần này, ông chú ý phê bình của Behe, bảo đảm các thành phần phụ như cái ghim lò xo vào đế cũng được giải thích. Ông kì công tới mức đồ họa từng bẫy một, bạn có thể xem hết các bước ở đây.

Cái bẫy tối giản thật sự chỉ là một sợi kim loại bẻ khéo để tự giữ căng. Đa số chuột thò đầu qua lỗ sẽ chỉ đẩy đổ nó thay vì bị kẹp, và nhiều con bị kẹp rồi vẫn có thể vùng thoát được. Nhưng nó vẫn sẽ bắt được chuột, đặc biệt trong một thế giới chuột chưa hề biết tới cái gọi là “bẫy”. Dù tỉ lệ thành công có là 1% đi nữa, cái bẫy vẫn hoạt động.

Và bạn đoán được phản biện của giới ID là gì không? Dù là cái bẫy đơn giản nhất cũng là do một con người nghĩ ra, độ dài ngắn của từng mảnh, chỗ đặt để thế nào để khớp với nhau đều có chủ ý, vì vậy chỉ càng chứng minh cần có thiết kế chớ chả có quá trình ngẫu nhiên đui mù nào tạo ra được gì. Đây chính là cái bẫy (ahihi) khi nói chuyện về ID: Họ dụ bạn nói về các thiết kế giả định, bạn vừa mở miệng nêu ý tưởng thì coi như đã có một chủ thể thông minh dính líu vào (xem bài về giải Nobel 2018). Tương tự lập luận “chiếc đồng hồ chứng tỏ phải có người tạo ra đồng hồ” của Paley, chúng ta rất dễ bị cuốn vào những ví von lấy những đồ vật con người tạo ra để tranh luận về sự sống. Nhưng cuối cùng thì so sánh cũng không phải bằng chứng, có hùng biện toàn thắng về bẫy chuột thì cũng chả nói lên điều gì về tiến hóa cả. Vậy thì hãy nói về một cái bẫy sinh học đi.

Đây là Dionaea muscipula, cây bắt ruồi (Venus flytrap)

Cơ bản là cây bắt ruồi xòe ra những cái kẹp tươm đầy mật để dụ côn trùng đến. Trên mặt kẹp có những sợi lông, đá trúng một lần không sao, nhưng trúng lần thứ hai thì cái bẫy sẽ kẹp lại. Kẻ xấu số bị tiêu hóa bên trong kẹp bởi enzyme do cây tiết ra.

Tới chương trình “10 vạn câu hỏi vì sao”:

  • Sẽ không ai mua một cái bẫy chuột “slow motion” để nhà sản xuất có tiền để cải tiến và tự nhiên cũng không thể cho cái kẹp thời gian tiến hóa nhanh dần. Trừ khi nó đã đủ nhanh ngay từ đầu để bắt được côn trùng, còn không một cái bẫy nhanh hơn 1% hay 30% cũng chả có ích lợi gì. Chẳng phải tiến bộ chậm, từng chút một là bản chất tiến hóa Darwin sao?
  • “Lông” cảm ứng hay kẹp tiến hóa trước, và cái này có ý nghĩa gì nếu chưa có cái kia? Còn mật nữa, nếu mật có trước, nó sẽ chỉ là bữa ăn miễn phí; nếu mật xuất hiện sau, cái bẫy không mồi sao tiến hóa được?
  • Còn nữa, thứ tự của khả năng quặp côn trùng và khả năng tiêu hóa chúng (vì thực vật đâu ra có sẵn enzyme phân giải protein động vật?? Mà lại là trên lá!).
  • Sao nó biết kích cỡ của con ruồi mà tiến hóa ra cái kẹp vừa vặn?
  • Cây cỏ không có não = không có suy nghĩ, cũng không có trí nhớ, sao nó biết nó đã bị đá trúng mấy lần?
  • Tất cả các “thông tin” cho các cơ chế nhúc nhích và khát máu này ở đâu ra, trong khi tất cả những loài cây khác đều vô cùng hiền lành và bất động.

Nếu nói theo kiểu mấy trang trang chống tiến hóa thì *Đập bàn* những câu hỏi này “Khoa học đ** giải thích được”.

Nếu bạn khách quan, có kiến thức cơ bản, bạn sẽ thấy bản chất vấn đề chỉ là dường như cây bắt ruồi có quá nhiều thành phần tinh vi, lệ thuộc lẫn nhau, khó có thể hình dung được những bước trung gian có bộ phận này mà không có bộ phận kia, những sự cải tiến dần dần, những phiên bản chưa hoàn hảo sẽ có lợi ích gì cho cái cây, cho nó ưu thế gì về sinh trưởng, sinh sản so với đồng loại để làm động lực tiến hóa?

Nếu là tôi của ngày xưa sẽ dành mấy tháng trời tìm hơn trăm tài liệu để trả lời bằng được cho các bạn từng bộ phận tiến hoá thế nào, cũng để thỏa tiêu chuẩn về bằng chứng của mình, mà tôi tự thấy là cao hơn nhiều so với mấy trang chống tiến hóa. Giờ tôi nghe lời bạn đọc Lê Thị Ngoan, tập trung vào một mục tiêu chính: nếu cây đơn giản hơn mà vẫn bắt được ruồi thì hệ này không tối giản, thế thôi.

Điều đầu tiên chúng ta nên làm khi thấy một ví dụ hoàn hảo, không thể hình dung đã tiến hóa ra sao là nhìn vào những bà con gần gũi của chúng. Theo kinh nghiệm của tôi, 99/100 lần ta sẽ thấy những phiên bản kém tinh vi hơn nhiều nhưng vẫn “chạy” tốt – những dấu vết khơi gợi về một lịch sử không hề trơn tru mà đầy những thử nghiệm “đủ xài”.

Và đây là các bà con của cây bắt ruồi.

Ảnh: 1800flowers.com

Họ hàng xa: Từ trong Bộ Cẩm chướng Caryophyllales đã có những đặc điểm tạo tiền đề cho việc bắt động vật. Ngay cả ở những loài hoàn toàn không ăn thịt như hoa thanh xà (Plumbago), ti liễu (Tamarix), thạch nam biển châu Âu (Frankenia) v.v. đã có các tuyến tiết nhựa mủ, muối và các hợp chất khác. Tới khi sống ở những vùng nghèo dinh dưỡng, khát khoáng chất mới biết tài sản di truyền này quý cỡ nào.

Bộ này cũng bao gồm gương mặt vàng trong làng ăn thịt nổi tiếng không kém là cây nắp ấm Nepenthes. Ở nhánh này của dòng họ thì đã có hẳn enzyme chuyên biệt để tiêu hóa. Vâng, cẩm chướng là nàng hoa hậu có một đống anh em là “giang hồ” 😉 .

Nepenthes. Etsy.com

Gần gũi hơn, gia đình Gọng vó – Họ Droseraceae – có những “giọt sương trên mí mắt” – dịch keo đậm đặc có mùi thơm khiến côn trùng bị dính chặt vào.

Drosophyllum lusitanica. Ảnh: Wikipedia

Triphyophyllum peltatum. Ảnh: a. A. Irmer; b. K. Rembold.

Cái bẫy keo đã bắt được mồi, nhưng chẳng có gì ngăn chúng bị cướp đi bởi lũ chim hoặc bị mưa hoặc nước ngập rửa trôi. Để đối phó, những anh em họ trong chi Drosera còn gần gũi hơn nữa với cây bắt ruồi có thể cuốn lá lại với tốc độ từ vài ngày đến chỉ vài phút.

Ảnh: Cathy Keifer, iStock photo

Cơ chế cuốn cũng không có gì mới, cùng dùng nồng độ hóc-môn auxin ở một bên nhiều hơn bên còn lại để bộ phận cong về một phía như tập tính hướng sáng vốn đã sẵn có của cây cỏ, chúng ta đã biết ở Sinh học lớp 11. Xem giải thích cơ chế ở đây.

Drosera adelae

Drosera adelae. Ành: Mach Fukada.

Drosera schizandra

Drosera schizandra. Nickname ‘xà lách ăn thịt’ =)). Ảnh: RL7836.

Drosera capensis. Ảnh: carnivorousplantnursery.com

Drosera spatulata. Ảnh: https://carnivorousplantnursery.com/

D. rotundifolia. Ảnh: sarracenia.com

Chúng ta đã có thể nhìn thấy tiền đề của bẫy kẹp ở D. rotundifolia. Một cái bẫy tròn có ưu thế hơn loại lá chỉ cuốn ngang mình con mồi nhờ tăng diện tích tiếp xúc với enzyme, làm quá trình tiêu hoá nhanh và hiệu quả hơn. Khi mặt lá lõm vào, có thể bao bọc con mồi 360 độ. Lưu ý: ví dụ này chỉ để hỗ trợ hình dung, tôi không nói cây này tiến hóa thành cây bắt ruồi, hay cây bắt ruồi đã tiến hóa đúng theo cơ chế này.

Minh họa và luận điểm từ video của kênh QualiaSoup.

Một cái bẫy ngay từ đầu đã hoàn toàn dựa vào tốc độ thì đúng là khó có thể tiến hóa, nhưng nếu tốc độ vốn chỉ là phụ trợ thì sao? Chiếc bẫy tiền thân đó không sập để bắt mồi, nó sập để con mồi to khỏe nhất giảm khả năng thoát được một chút khỏi đống keo. Khi đó, sự khác biệt giữa một cái bẫy kẹp và không kẹp, sập tốc độ sên leo và tốc độ rùa bò (vẫn nhanh hơn sên leo một tí) không phải là bắt được hay không bắt được con mồi, mà là cải thiện một vài phần trăm số lượng và kích cỡ con mồi bắt được và giữ được.

Ảnh: nanowerk.com

Vì quy luật thể tích, một con mồi dài gấp 2 có lượng “thịt” nhiều gấp 8, và ngược lại. Cây bắt ít mồi hơn hay chỉ giữ được mồi bé không chết đói mà đơn thuần lấy được ít dinh dưỡng hơn, mọc kém hơn và để lại ít cây con hơn cây có bẫy tốt. Mùa sau, trong khu rừng đó có nhiều bẫy đóng sau 8 phút hơn bẫy 8 phút 30 giây.

Kích cỡ của bẫy cũng là một bài toán vật lý và toán học không cần ai giải: mỗi thế hệ có một loạt bẫy khác nhau vài mi-li-mét vì biến thiên tự nhiên, bẫy quá nhỏ thì không bắt được mồi to, quá to thì hiệu suất không bằng bẫy vừa phải. Tương tự lượng đường, độ chắc của keo, độ nhạy của bẫy… mọi thuộc tính đều có một thông số tối ưu mà tự kết quả quyết định kết quả.

Khi bẫy đã nhanh tới một ngưỡng nhất định, có một diễn biến thú vị. Keo không còn thay đổi xác suất bắt mồi nữa mà vẫn ảnh hưởng tới mức độ thích nghi, nhưng là theo hướng ngược lại. Cùng một tốc độ kẹp và tỷ lệ thành công, cây làm ra ít keo hơn lại sinh sản tốt hơn vì phần tài nguyên đó có thể dùng tạo thêm hạt. Chọn lọc bây giờ sẽ đi theo hướng chọn lấy những cá thể có gen quy định keo bị đột biến hỏng hay kém hiệu quả, cho đến khi quần thể chỉ còn những cây không tiết keo. Đây là hiện tượng scaffolding: như một giàn giáo hỗ trợ xây dựng, chất keo đã “giúp” bẫy sập có thể tiến hóa, dù không hề có chủ đích nào ở đây.

Một mái vòm có vẻ không thể được xây dựng dần dần, vì thiếu một viên đá nó sẽ sập

Với một cấu trúc đỡ, mọi thứ trở nên dễ dàng.

Minh họa và luận điểm từ video của kênh QualiaSoup.

Nhưng cũng từ lúc này, giàn giáo đã được tháo đi, cây nào đột biến bẫy sập chậm hơn một phần giây sẽ không có keo để gỡ lại. Nó vẫn không “chết đói” ngay, nhưng yếu thế hơn hẳn đồng loại và khả năng bị loại khỏi nguồn gen tăng cao. Áp lực chọn lọc lúc này càng thêm sống còn. Tốc độ, từ vị trí hỗ trợ đã trở thành bắt buộc, và một hệ có vẻ là PTTG đã hình thành. Tuy nhiên, có thể thấy sinh tồn của sinh vật thực thụ ít khi nào mang tính hoạt động hay không hoạt động, được ăn cả ngã về không như Behe nói, mà chỉ là vấn đề xác suất và tỷ lệ thành công trung bình dẫn đến chênh lệch về thành công sinh sản. Một trò chơi di truyền quần thể. Chọn lọc tự nhiên. Tiến hóa.

Trái với khẳng định rằng các thành phần phải “xuất hiện hoàn chỉnh ngay từ đầu” và “không thể có tiền thân, vì cái tiền thân của PTTG thì tất yếu không thể hoạt động”, Palfavi và cộng sự khẳng định rằng nguyên liệu di truyền để ăn thịt đã có sẵn trong hầu hết thực vật…

Người chống tiến hóa sẽ nói tôi lại kể chuyện cổ tích về một cái ngày xửa ngày xưa không ai nhìn thấy và những cơ chế thuần túy tưởng tượng. Nhưng mà điều khiến tôi chọn ở “phe” tiến hóa đó là “phái” này lúc nào cũng đã xắn tay áo làm thí nghiệm rồi mới nói.

  • Từ những năm 70, các nhà nghiên cứu đã phát hiện các enzyme tiêu hóa của cây ăn thịt rất giống các enzyme tự vệ của các cây khác, như chitinase để chống nấm hay protease để làm đau động vật ăn cỏ. Trong thời đại sinh học phân tử, giờ ta đã biết đúng là chính những gen từ tổ tiên chung của thực vật có hoa này đã được “trưng dụng”, biến đổi và tăng cường ở các cây ăn thịt.
  • Palfalvi và cộng sự giải mã toàn bộ hệ gen của bốn nhánh cây ăn thịt trong Bộ Cẩm chướng, và xác định chi tiết những biến đổi gì đã diễn ra ở giai đoạn nào của mỗi nhánh (xem hình dưới).
  • Dựa trên kết quả so sánh trình tự gen, các đặc tính hình thái, sinh lý, phân bố và hóa thạch, Cameron và cộng sự kết luận bẫy kẹp tiến hóa từ tổ tiên tương tự như các cây bẫy keo.

Chuyện không tiến hóa được một thứ như cây bẫy ruồi là một lập luận, còn việc cây bẫy ruồi đã tiến hóa là hiện thực đã được nhiều nghiên cứu ủng hộ.

… thế nên động vật chúng ta nên cảm ơn trời đất rằng chỉ có một số nhỏ cây cỏ biết săn mồi! 😛

Giống như McDonald, cái bẫy này tôi gỡ ngược gỡ xuôi đều được:

  • Khi chưa có cơ chế đá hai cái mới sập thì sao? Thì vẫn có thể có loài D đụng là kẹp, chỉ phí năng lượng cho “báo động giả”, cái lá cây rụng xuống cũng “đớp”.
  • Lông vốn rất phổ biến ở lá cây, không phải cấu trúc mới. Thay vì vài chiếc lông tập trung, nhạy cảm như cây bắt ruồi hiện đại, loài C cảm ứng bằng lông rải rác trên toàn bộ mặt lá.
  • Cảm ứng chuyển động cũng không mới, cùng cơ chế các kênh ion trên mặt tế bào thôi, sinh vật nhân thực nào cũng có. Loài B không cảm ứng được, không cuộn được thì chỉ dễ mất mồi hơn, chứ keo vẫn bắt mồi.

  • Bông hoa nào cũng tiết được đường, trước khi làm bẫy ăn thịt thì đường đã là mồi dẫn thụ phấn. Keo cũng được làm từ đơn phân đường. Mọi thực vật đều tạo ra được đường từ quang hợp (trừ cây ký sinh).

  • Trước khi chuyên biệt hóa để sống trên đất nghèo dinh dưỡng, có một loài A là bà con của nàng cẩm chướng tự lực cánh sinh hút ni-tơ từ đất như bao loài cây khác, nhưng có khả năng tiết nhựa mủ bọc lấy côn trùng để tránh chúng cắn phá cây. Đó cũng là một cái bẫy, chỉ là không phải để ăn.

Các cơ chế hình thành hình thái lá của các nhánh ăn thịt khác nhau từ tổ tiên chung Bộ Cẩm chướng

Sự PTTG của cây bắt ruồi thực ra là ảo giác đến từ một ngộ nhận: cái bẫy như hiện nay chúng ta thấy mất đi một bộ phận sẽ ngay lập tức ngưng hoạt động không có nghĩa là trong quá khứ không thể có những dạng sống tương tự không có bộ phận đó mà vẫn thực hiện được chức năng, chỉ là kém hơn. Chúng ta chỉ thấy căn nhà, không thấy giàn giáo – cái PTTG kia là kết quả, không phải toàn bộ quá trình.

Tới đây, PTTG lộ ra nhiều giả định ngầm:

  • Rằng PTTG là kết quả cộng dồn, thay vì là trừ bớt từ một hệ thống phức tạp hơn.
  • Rằng tiến hóa phải trực tiếp sản xuất từng bước một các bộ phận dẫn trực tiếp tới trạng thái hiện tại của hệ PTTG thay vì có thể đi đường vòng.
  • Rằng chức năng hiện có của hệ PTTG phải chức năng duy nhất trong suốt quá trình tiến hóa.

Không có cái nào chắc chắn phải như vậy cả. Dễ thấy, PTTG chính nó vốn là một cái bẫy: bắt các nhà tiến hóa phải giải thích quá trình hình thành chức năng theo một con đường chắc chắn họ không làm được. Từ đó tuyên bố thất bại của thuyết tiến hóa. Cá nhân tôi thấy đây là một thiết kế khá thông minh 😉.

Minh họa và luận điểm từ video của kênh QualiaSoup.

Cách lập luận của PTTG tương đương với đánh đố: Làm sao bỏ được viên đá đỉnh vòm ra mà không làm đổ các viên còn lại, hong chơi bệ đỡ à nghen! 😡

Ở phần sau, hãy cùng gỡ bẫy cho biểu tượng của PTTG: roi bơi của vi khuẩn.

Tái bút: Các nhà chống tiến hóa rêu rao rằng Darwin không thể so sánh với Mendel hay Pasteur vì họ tưởng ông già chém gió ra thuyết tiến hóa chứ không có thí nghiệm. Như nhiều khẳng định “trần truồng” khác của họ, chỉ cần biết sơ sơ về sinh học cũng thấy điều đó sai tới lố bịch.

Charles Darwin là nhà khoa học đầu tiên chứng minh bằng thực nghiệm rằng một số loài thực vật thực sự có thể hút, giết, tiêu hóa và hấp thụ chất dinh dưỡng từ côn trùng săn mồi; cuốn sách Cây ăn côn trùng (1875) của ông vẫn là một tác phẩm kinh điển được trích dẫn rộng rãi.

(Carnivorous Plants: Physiology, ecology, and evolution). Nguồn

Chính ông già giả thiết rằng cây bẫy ruồi tiến hóa từ tổ tiên dùng bẫy keo hơn trăm năm trước khi điều đó được chứng minh bằng di truyền. Không phải đương không sách giáo khoa xưa lấy Darwin làm tấm gương “bác học không có nghĩa là ngừng học”.

Đọc thêm

Irreducible complexity cut down to size

Molecular evidence for the common origin of snap‐traps among carnivorous plants

Genomes of the Venus Flytrap and Close Relatives Unveil the Roots of Plant Carnivory

On the Origin of Carnivory: Molecular Physiology and Evolution of Plants on an Animal Diet

The Mousetrap Analogy or Trapped by Design

Bình luận về bài viết này