EvoThink – Tư duy Tiến hóa #3: Địa chất Đại Hồng Thủy Và Di tích Hóa Thạch

 

Đính chính trước là tôi không có muốn ghét bỏ hay báng bổ bất cứ thần thánh nào hết. Đa số cộng đồng tôn giáo ôn hòa và hiểu lý lẽ đều ủng hộ tiến hóa, và những nguyên lý của tiến hóa không mâu thuẫn với đức tin. Cái tôi chỉ trích là những méo mó về logic và sai lệch khoa học trong cũng như tác phong lý luận chung của tài liệu chống tiến hóa, đồng thời giới thiệu cho các bạn một số kiến thức quý hiếm và khuyến khích các bạn tư duy. Đây không hề là một cuộc tấn công cá nhân hay Đạo Thiên Chúa.

Sáng tạo luận (Creationism – STL) thuần túy (không giống với tiến hóa hữu thần hay còn gọi là sáng tạo thông qua tiến hóa) – hệ tư tưởng cho rằng vạn vật được tạo ra từ thế lực siêu nhiên, chối bỏ tiến hóa lớn – chỉ là một trường phái diễn giải Sáng Thế Ký, tuyệt đối hề không bất khả xâm phạm hay không thể tách rời với Kinh Thánh. Nếu còn ai lấn cấn vụ này, xin hãy xem lại bài viết , nơi tôi trình bày một danh sách rất dài các tổ chức tôn giáo chấp nhận thuyết tiến hóa, lời của ba Giáo Hoàng, khảo sát rộng khắp các phái, thống kê hàng loạt đức tin, và lá thư bảo vệ thuyết tiến hóa của hơn 13,000 tu sĩ.

Cập nhật 4/3/2017: Thêm tùm lum chi tiết

HỦY DIỆT

Nếu không có một Trái Đất già, thì phái sáng tạo luận Trái Đất trẻ giải thích ra sao về di tích hóa thạch trên toàn thế giới? Họ tuyên bố tất cả hóa thạch đều được hình thành trong trận Đại hồng thủy toàn cầu kéo dài vài trăm ngày vào cỡ 4000 năm trước. Một tài liệu tiếng Việt của họ các bạn có thể đọc là cuốn Tiến hóa hay Tạo hóa? mà tôi đã đánh dấu sẵn phần Đại hồng thủy trong file trên Thư Viện (nếu các bạn sợ EvoLit đã cắt cúp gì thì cứ tải bản gốc ở đây). Theo tính toán của sách này thì Trái Đất chỉ khoảng 6000 tuổi.

Tôi cảm thấy cần bổ sung thêm về đám “vỏ hành” này. Cũng như hóa thạch hay não bộ của một số đứa trẻ, thứ chúng ta thấy chỉ là là đá và đá, trong con mắt nhà chuyên môn và ba mẹ của chúng là cả một gia tài. Các chuyên gia địa chất có thể xác định loại đá/trầm tích/hóa thạch trong từng lớp, rồi vẽ một sơ đồ (column) cho từng địa phương (Bấm xem trang web của trường Đại học Quốc gia Hà Nội). Độ dày của từng lớp có thể giúp chúng ta ước lượng thời gian cần để hình thành lớp ấy.

geological-columns

Bên trái: Tên các Kỷ/đơn vị khoảng thời gian địa chất – từ trên xuống, từ trẻ tới già – lần lượt là Đệ Tam (Tertiary), Phấn Trắng (Cretaceous), Jura (Jurassic), Tam Điệp (Triassic), Pennsylvanian, Mississippian, Devon, Cambri, tiền Cambri. Hình vẽ: Trầm tích kỳ bí và nơi tìm ra chúng.

N

Với các sơ đồ ấy trong tay, họ có thể đối chiếu với sơ đồ của những nơi khác và tìm thấy ít nhất vài lớp tương đồng (về loại đá, động/thực vật đặc thù v.v); trên hoặc dưới chúng có các lớp khác nữa, và chúng phải trẻ hơn hoặc già hơn các lớp đã biết.  Vậy, trong quá trình đi vất vưởng xuyên suốt các châu lục, các nhà địa chất đã xác định, miêu tả và ráp nối được các chuỗi từ nhiều cột đá địa phương khác nhau trên thế giới, từ đó đã khám phá ra được một Cột Di tích Địa chất (Geologic Column) “toàn cầu” trong nỗ lực thống kê tất cả các lớp trầm tích trong một khoảng thời gian nhất định và địa điểm của chúng, mà ta có thể dùng để ráp nối và mở rộng bằng cách liên hệ gối đầu.

N

Nếu chuyển tiếp giữa bò sát và chim KHÔNG phải là một sinh vật có móng, răng, đuôi bò sát, mình các loại lông đơn giản, thì nó như thế nào mới PHẢI? Và tôi có chúng nó ngay đây.
Nếu chuyển tiếp giữa thú trên cạn và cá voi KHÔNG phải là một sinh vật có chân màng bơi lè bè, sống dưới nước nhưng có xương điển hình của thú guốc chẵn, lỗ thở ở giữa mặt thay vì chóp mũi hay đỉnh đầu, thì nó như thế nào mới PHẢI? Và tôi có chúng nó ngay đây.
Mà nhìn hóa thạch mà biết sinh lý không khác gì thì hay thật, tại hóa thạch chỉ còn là đá thôi.

Tôi thắc mắc nếu như vậy thì tại sao khi tìm được một hóa thạch tương đối lành lặn người ta lại phấn khởi lên báo khoe đì đùng. Đáng ra chúng ta phải thấy những dòng tít như “Hóa thạch T-rex sứt mẻ nhất từng được tìm thấy!” nếu hóa thạch nguyên vẹn thực sự phổ biến. Không chỉ một lớp bùn khổng lồ mới có thể giữ được hóa thạch toàn vẹn, mà có những điều kiện đặc biệt khác như các thềm lục địa có tác động của bão, môi trường biển sâu hay các phá tù đọng, hồ nước ngọt bao gồm những hố nước núi lửa, hang động, hố hắc ín và băng vĩnh cửu… Thực tế là nhiều mẫu vật được tìm thấy cho thấy dấu hiệu đã bị phơi tênh hênh hàng tháng trời và bị động vật ăn xác thối róc rỉa. Hơn nữa trong các mỏ hóa thạch biển, các xương thường có sự đeo bám, đục lỗ của các sinh vật, hay dấu răng của cá mập và động vật ăn xác thối, cho thấy chúng chẳng hề được chôn lấp đột ngột chút nào.

N

Bảng chuyển đổi niên đại địa chất sang thời điểm trong Đại hồng thủy của creation.com.

Ba cơ chế chính của mô hình “hóa thạch do đại hồng thủy” là:

_Khu vực sinh sống,

_Khả năng vận động

_Sắp xếp thủy lực, nhờ dòng nước trộn những con to, nặng xuống, nhỏ, nhẹ nổi.

Các trầm tích cũng như hóa thạch và di cốt trong chúng đều được tạo ra trong cùng một sự kiện không quá dài. Mọi động, thực vật hay cái gì khác đều cùng tồn tại một lúc, thay vì là tiền bối/hậu bối. Trong mô hình này, tuổi địa chất không còn có ý nghĩa, nên tên các “đại” sẽ đi kèm cụm “theo tiến hóa”.

Nhà sáng tạo luận Morris đã viết vào năm 1972 ” di tích hóa thạch bao la thể hiện một nghĩa địa toàn cầu được lưu giữ trong đá cho bá tánh mọi miền đều được thấy; hoàn toàn không phải ghi lại quá trình tiến hóa dần dần của sự sống, mà là sự hủy diệt đột ngột của sự sống.”

Thật ngạc nhiên, một số những chỉ trích nặng nề nhất với mô hình “hóa thạch do đại hồng thủy” đến từ những người theo Kito-giáo và/hoặc phái sáng tạo luận Trái Đất già như Alan Hayward, Michael Pitman, Daniel E. Wonderly v.v. Tôi tổng hợp lại và nêu thêm dẫn chứng từ những người khác như sau:

Về khu vực sinh sống:

_Điểm buồn cười lớn nhất là những người đầu tiên đưa ra luận điệu không xương sống bị chôn trước => lưỡng cư => bò sát => thú + chim => người, kéo theo đó là hằng hà những người “nhai lại” luận điệu ấy sau này, đã ngộ nhận giữa “xuất hiện lần đầu trong di tích hóa thạch” với “thứ tự thực sự trong di tích hóa thạch” – hai điều này thoạt nghe tưởng như đồng nghĩa nhưng thực ra lại khác nhau lắm, và nó phản bội sự thiếu kiến thức của họ. Đúng, không xương sống lần đầu xuất hiện trước tất cả, sau đó lần lượt là các nhóm kia. Nhưng không xương sống vẫn còn tồn tại đến ngày nay cơ mà, tức là chúng đã sống suốt chiều dài từ đó đến nay, cho nên ở MỌI tầng trầm tích từ dưới lên trên đều có chúng, không phải chỉ có tầng dưới cùng! Tương tự, có những con lưỡng cư nằm cao hơn bò sát, chẳng qua là do chúng thuộc một nhóm trẻ hơn của dòng dõi lưỡng cư v.v. Vậy, chuyện toàn bộ di tích địa chất hình thành trong cùng một trận lũ và nhờ sức sống sót hay sắp xếp thủy lực mà “đơn giản dưới, phức tạp trên” đến đây đã phá sản rồi. Nhưng để thuyết phục hơn, hãy cùng xem xét rất nhiều thực tế khác nữa để thấy môn “địa chất” của Sáng Tạo Luận đã “vô sản” ngay từ đầu.

_Người lúc nào cũng ở trên, nhưng chẳng lẽ không có cộng đồng vùng trũng, ven biển, savan mênh mông nào bị đánh úp bởi đại hồng thủy trong lúc ngủ?

_Theo khu vực sinh sống, thì cây thủy sinh sẽ chết trước cây trên cạn. Nhưng những loài ưa vùng trũng như sậy, hương bồ (cattail), liễu, sen, súng lại ở tầng hóa thạch cao hơn đám thích sống trên vùng núi cao và lạnh như cây thông và nhà lá kim. Nhưng việc hạt trần xuất hiện trước hạt kín lại phù hợp với mô hình tiến hóa.

_Và những cây có hoa kia cũng chưa bao giờ được tìm thấy với các loại lưỡng cư như con đầu boomerang Diplocaulus, vốn cũng sống trong những cái hồ như chúng, mà chỉ có các loại quyết khổng lồ mà thôi.

_Các nhà sáng tạo luận Đại hồng thủy đơn giản là đã sai khi cho rằng chỉ có bọn không xương sống “đơn giản” mới ở đáy nước. Thực tế đa số chúng sống ở vùng biển cạn gần bờ nơi ánh sáng có thể chiếu xuống để nuôi thực vật phù du và qua đó là các động vật nhỏ ở cuối chuỗi thức ăn biển. Ở dưới đáy biển sâu là các loài có xương sống như cá mặt quỷ/lồng đèn, đáng ra phải bị vùi trước lại ở cao hơn. Nhưng việc bọn không có xương sống xuất hiện trước lại phù hợp với mô hình tiến hóa.

_Những loài sống dưới nước phải bị chôn trước những loài lưỡng cư. Nhưng các bò sát biển như icthyosaur (kỷ Phấn trắng), plesiosaur (kỷ Tam Điệp) lại nằm ở lớp trên cao hơn các loài bò sát hay lưỡng cư (cổ hơn theo thuyết tiến hóa) như Eryops, Lagosuchus hay Herrerasaurus. Nhưng việc lưỡng cư xuất hiện trước bò sát, bò sát trên cạn trước bò sát biển, lại phù hợp với mô hình tiến hóa.

N

Về khả năng di chuyển:

_Con hàu như chúng ta biết ngày nay xuất hiện trễ hơn các loại nhuyễn thể cổ đại brachiopods (tay cuộn) (theo tiến hóa), nếu là do nó “chạy” nhanh hơn thì thật kì lạ, bởi vì hàu bị dán chặt trên giá thể dưới tận đáy.

_Chẳng lẽ ốc và rùa chúng ta thấy ngày nay “chạy” nhanh hơn các loài khủng long tốc độ như velociraptor?

_Chẳng lẽ không có một con thằn lằn bay (pterosaur) nào kịp bay lên các đỉnh núi?

_Nhưng ngay cả con chim nhỏ như chim ruồi cũng làm được điều đó! Chim không thể bay mãi, chúng cần chỗ đậu nghỉ nếu không sẽ kiệt sức mà chết. Tầm của chim cũng có giới hạn, không phải loài nào cũng đủ sức bay lên rất cao, thật lạ là không có con pterosaur tay khỏe cánh dài nào vượt được chúng.

_Cùng sống trong một môi trường, tại sao cá voi cá heo (thế Thủy Tân) chỉ ở trên còn bò sát biển khổng lồ như icthyosaur, plesiosaur chỉ ở dưới, chúng bơi kém hơn chăng?

_Dương xỉ, cây hạt trần lá kim, cây có hoa như cây ăn quả… cây nào “chạy” nhanh hơn? Mô hình đại hồng thủy hoàn toàn bất lực với sự phân bố của thực vật, trừ khi bạn hình dung những cây táo, cây cam đeo giầy NIKE lên rễ rồi chạy vụt qua bầy cây mộc lan (magnolia) và bọn thú có vú sơ khai, bỏ lại sau lưng chúng đám cây bạch quả/lá quạt (ginkgo) ở lại chơi với tụi khủng long. Nói chớ bị cuốn bật gốc rồi thì gần như cây nào cũng nổi.

Về sắp xếp thủy lực:

N

_Chúng ta đều đã được học hồi nhỏ là đất trồng có thành phần gồm các loại hạt cát, bùn (limon) và sét, tùy tỉ lệ mà ta có các loại đất khác nhau. Người làm vườn biết kiểm tra điều này vô cùng dễ dàng bằng cách bốc một hai nắm đất cho vào hộp chứa nước mà lắc đều, sau đó các hạt này sẽ lắng xuống theo trình tự sỏi, cát, bùn, rồi sét ở trên cùng; độ dày của từng lớp sẽ cho ta biết thành phần của đất. Lũ lụt cũng tương tự, khi nước lũ chậm dần thì các hạt đất thô to nhất cũng sẽ lắng xuống trước, tạo ra một chuỗi trầm tích càng lên cao càng nhỏ mịn. Nhưng các lớp trong cột các tầng trầm tích lại không như vậy, chúng bị xen kẽ, với những thứ rất nặng lại ở trên những thứ rất nhẹ.

_Tôm ba lá có lớp vỏ chitin như vỏ cua, nhỏ và nhẹ lại chìm xuống tận đáy, rùa biển nặng gần 7 tạ lại nổi lên trên cao cơn cả những thứ “mỏng manh như sương khói” là sứa và rong. Các loài sò inoceramids nằm gọn trong tầng của kỷ Phấn Trắng (theo tiến hóa), không xuống thấp hơn, dù chúng có thể to đến cả mét.

N

Sphenoceramus steenstrupi, 80 triệu năm tuổi

_Vỏ của con cúc đá cổ đại (theo tiến hóa) có các buồng khí giúp chúng luôn nổi trừ khi bị vỡ, giống như ốc anh vũ. Vỏ ốc anh vũ chết có thể giạt khắp Thái Bình Dương & Ấn Độ Dương, tại sao không có vỏ cúc cổ đại nào “lạc trôi” ở tầng trên?

_Tại sao các loài cúc cổ đại (theo tiến hóa) với các kích thước khác nhau, từ vừa vừa đến to oành, lại sống cùng nhau. Khó hiểu hơn, con non nhỏ xíu vài cm, và có hình dáng rất khác, nằm cùng tầng với đồng loại trưởng thành khổng lồ của chúng, thay vì lên trên với các loài hiện đại (theo tiến hóa) cùng kích cỡ? Vi diệu nữa, bằng cách nào đó thủy lực cũng sắp xếp sao cho các cúc đá càng về sau càng có cấu trúc vỏ phức tạp, mặc dù kích cỡ và hình dáng không khác mấy! Chưa bao giờ chúng ta tìm thấy một con cúc có vỏ với những đường ráp phức tạp dưới các lớp kỷ Devon (theo tiến hóa) hay những con đơn giản ở kỷ Phấn trắng (theo tiến hóa), khác biệt thủy lực của chúng không thể cho phép sự phân loại chính xác như vậy.

_Và khủng long trưởng thành có cùng đặc tính thủy lực với khủng long con không? Trứng? Vỏ trứng? Phân? Trận Đại hồng thủy đã làm cho chúng đều cùng nằm trong một lớp.

_Bá đạo nhất, phải chăng nước lũ cũng có chọn lọc những hạt bào tử và phấn hoa tí hon sao cho chúng được sắp cùng tầng với nấm và cây trưởng thành?

Còn nhiều câu hỏi nữa.

  • Tại sao lại nghĩ toàn loài người đều có thể lên đến các điểm cao để xuất hiện cuối cùng trong di tích hóa thạch? Các trận lũ (cục bộ chứ không phải toàn cầu) trên thế giới tự cổ chí kim lịch sử ghi nhận có rất rất nhiều người chết trước khi kịp chạy lên các núi dù có lân cận đi nữa, đơn cử như trận lũ miền Trung 2016, vẫn có người tử nạn ở ngay miền chân núi. Dù có trí khôn nhưng khả năng leo trèo và chạy của chúng ta thực sự là kém xa nhiều loài vật khác, và chắc chắn là không lên núi nhanh bằng thằn lằn bay rồi đấy.
  • Không có một con khủng long, hổ răng kiếm, chuồn chuồn khổng lồ… nào đủ khỏe, đủ quyết tâm, đủ may mắn để lên trên đỉnh cao nhất?
  • Ngược lại, không có người hay con thú có vú lớn nào đủ đần độn, dị dạng, bệnh tật, bị thương hay xui xẻo để rớt xuống dưới cùng?
  • Một trận lũ kinh hoàng trên toàn cầu, mà tất cả các khu vực đều được sắp xếp gọn gàng, theo một thứ tự tình cờ giống với những gì thuyết tiến hóa mong đợi. Ví dụ, những con bò sát cung thú (therapsid), mà người theo sáng tạo luận cho rằng sống cùng thời, lại tình cờ chết đuối và được phân loại bởi Đại hồng thủy thành một chuỗi nhìn cứ y như tiến hóa: các dạng có khớp hàm bò sát phát triển và khớp thú sơ khai tình cờ được chôn trước, sau đó là những con như Probainognathus với khớp hàm đôi, trong khi các dạng như Morganucodonts, với khớp thú hoạt động tốt và khớp bò sát thu hẹp, tình cờ leo cao lên được hơn một chút hay chìm xuống chậm hơn một chút (nhưng cũng tình cờ không cao hay chậm bằng những con thú thực thụ không còn các đặc điểm bò sát).

Geological_time_spiral.png

Động, thực vật qua các đại địa chất có đủ mọi hình dáng, kích thước, nhưng luôn rất điển hình cho thời đại của chúng, thách thức những giải thích hời hợt của người chống tiến hóa .

Link HQ

  • San hô cứng (Scleractinian corals) phân bố rộng khắp thế giới và có lượng hóa thạch dồi dào hơn bất kỳ loài động vật nào khác trong kỷ Đệ Tam (theo tiến hóa), vậy mà chúng không hề bị trộn vào các tầng dưới. Điều lạ là chúng cũng nặng và đặc y như các bộ san hô cổ hơn (theo tiến hóa) vì cùng có vỏ canxi từ CaCO3. Nếu mô hình thủy lực là đúng, thì Chúa Trời đã phải thực hiện vài phép màu vô cùng cụ thể: nâng san hô cứng lên để cho các bộ san hô kia chìm xuống, cùng lúc đó phải giữa cho các lớp tảo silic (diatom) hiển vi không bị trộn lẫn với đám trùng tia (radiolarian) hiển vi ở tầng dưới.
  • Một phép màu cần thiết cho trận Đại hồng thủy này nữa là tạo ra những tầng đá vôi dày cui ở nước ta cũng như thế giới, ví dụ Hẻm núi Grand Canyon. Chúng ta chưa từng tìm thấy trầm tích đá vôi trong bất cứ trận lũ dù lớn cỡ nào. Đó là do đá vôi không phải từ khoáng chất vô cơ hay đất phù sa, mà là từ những sinh vật nhỏ cần phải qua rất nhiều thế hệ sinh sản, thu thập khoáng chất từ nước để tạo ra vỏ canxi, rồi chết xong lắng xuống mà thành. Chưa kể các lớp đá vôi viên dày mấy thước là kết quả của việc cá ăn những sinh vật trên rồi thải chúng ra dưới dạng hột và lắng đọng. Tất cả những điều này đều cần thời gian ờ… rất dài hơn một năm.
  • Một vấn đề của việc cùng chung sống của các loài vật là chúng mần thịt nhau, và di tích hóa thạch thể hiện điều đó. Đơn cử, bò sát biển khổng lồ Icthyosaur, mosasaur và plesiosaur thừa sức săn và ăn cá voi con, cá heo, hay các dạng tổ tiên (theo tiến hóa) của chúng, nếu sống trong cùng một môi trường. Nhưng chúng ta chưa bao giờ tìm thấy hóa thạch cá voi & tiền-cá voi có dấu răng của bò sát biển hết, nhưng những vết tích của các tương tác kém hữu nghị của những sinh vật cùng thời theo tiến hóa thì đầy (Ví dụ, chim cổ Hesperornis với dấu cắn của plesiosaur 70 triệu năm trước).
  • Cá không hề được lên Thuyền. Kinh Thánh không hề nói gì về bồn nước nuôi cá. Vậy trong môi trường nước “xáo trộn nghiêm trọng. Một phần nước, hai phần bùn. Các loài cá đều bơi ngửa bụng hết.” Vậy cá ngày nay ở đâu ra?
  • Cột di tích địa chất có: các tầng sa mạc, đáy hồ, đáy sông khô cạn, dải đất cổ paleosols, nhiều lớp rễ con ở nhiều tầng, nhiều lớp rừng, tổ kiến, tổ mối, kén ong bắp cày mỏng manh, các ô tổ ong, trứng và ổ khủng long (ở vùng Đá Chinle ở Rừng Quốc Gia Hóa Thạch), tổ chim và trứng (của một loài họ hàng với hồng hạc ở vùng Đá Green River ở Wyoming)… hóa thạch; còn có lỗ giun, hang gặm nhấm, dấu vết, đường mòn và vết tích của động vật trên cạn, ngay cả phân động vật hóa thạch nguyên trạng sau khi chúng đã khô và nứt và hóa rắn trên mặt đất cứng. Nếu có một cơn Đại hồng thủy, thì đây chắc phải là một trận lụt KHÔ, bởi vì trong lúc các trầm tích trận lụt này gây ra hình thành, các loài trên cạn vẫn thong thả đi lại, “gửi tình yêu vào đất”, quyến rũ bạn tình, xây tổ, làm ổ, đào hang, đẻ trứng, ấp cho nở (hóa thạch vỏ trứng đã nở), rồi nuôi con lớn (lặp lại bước 1)… những bằng chứng như thế được tìm thấy ở các tầng khác nhau của di tích, trong lúc sa mạc, ao hồ, sông suối, đất đai… hình thành rồi biến mất, cây cối đâm rễ non rồi chết đi, rồi mọc mới ở các tầng khác… tầng tầng lớp lớp những vòng đời, chỉ trong dưới một năm!

Giờ chúng ta xét tới tính khả thi của việc tái sinh sinh giới bằng thuyền Noah.

TÁI XÂY DỰNG

Hiện nay ước tính có khoảng 8.7 triệu loài trên Trái Đất, trong đó chúng ta đã định danh 1.2 triệu. Để nhét vừa tất cả các loài lên chiếc thuyền cứu thế, người theo sáng tạo luận Đại hồng thủy có hai phương án chính:

 1. Nói giảm, nói tránh, nói né:

Phép tính thể tích hình hộp chữ nhật thì đúng rồi, nhưng ông Noah có chất chồng các chuồng lên nhau như các container trên các toa tàu, hay treo các con vật lơ lửng trên nóc tàu, hay tận dụng tất cả ngóc ngách, góc kẹt không? Nếu không thì không thể tính như thể từng mét khối thể tích đều có thể dùng để chứa con gì đó được. Đừng nói tới chuyện bí khí, thiếu ánh sáng, thiếu không gian tối thiểu… mô hình container đơn giản không có căn cứ gì từ Kinh Thánh.

Nhìn con tàu có vẻ to đấy…

N

Vấn đề là ở phối cảnh. Chỉ có hơn 2228 hành khách trên Titanic, và Queen Mary II chỉ có sức chứa khoảng 4000 người. Như những con tàu khác, thể tích khả dụng của tàu Noah phải nhỏ hơn tổng thể tích nhiều.

Còn vụ các động vật lớn lên tàu khi là thú non – đừng nói tuyệt đại đa số thú non không có mẹ không thể sống sót hay học hỏi các kỹ năng sinh tồn & xã hội – có căn cứ gì từ Kinh Thánh không?

Cũng như đa số nội dung trong sách “Tiến hóa hay Tạo hóa?”, con số 20,000 loài vật sống trên đất liền đều được đi kèm một “nguồn” có vẻ là uy tín nhưng thực ra rất mơ hồ, vì ta không thể xác định “Các nhà Sinh Vật Học” là ai? Không có một cái link nào để kiểm chứng. Riêng trường hợp này tôi có thể khẳng định luôn con số này hoàn toàn là không đúng, bởi vì chỉ riêng côn trùng chúng ta đã ghi nhận được (không tính số loài ước lượng, chưa tìm ra) gần một triệu loài, nhóm hình nhện (nhện, ve, bò cạp v.v) là cỡ 100,000, bò sát gần 10,000, thú thì cỡ 5,500 – đó là chúng ta không tính gần 7,000 loài lưỡng cư, dù tất cả đều phụ thuộc vào đất liền (theo infographic từ National Geographic). Chim cũng phải được ở trên tàu (Sáng Thế Ký 6:18–20) mà có hơn 10,000 loài chim vô cùng phong phú.

 

N


Có căn cứ gì từ Kinh Thánh cho vụ ngủ đông không? Mà thôi, mệt quá bỏ qua, cứ coi như nhờ ngủ đông mà không cần trữ vài ngàn tấn cỏ khô hay thịt khô, con này không lủm con kia, dịch bệnh không quằm đứa nào, phân không chất thành núi, nước thải không chảy thành sông, cũng không quan tâm chúng ăn gì khi tỉnh dậy… Cùng xem xét một cách khác để các nhà sáng tạo luận Đại hồng thủy vượt qua vấn đề hậu cần nữa.

2. Sử dụng tiếng “loại” nhiệm màu:

Chúa Trời sai Noah đem 2 hoặc 7 con mỗi “loại” lên tàu, nhưng có những người lý luận rằng các “loại” ở đây không phải là loài, mà là các cấp phân loại cao hơn như chi, họ hay lớp (nhưng như thường lệ, họ không hoạt động theo hệ thống phân loại của con người, nên “loại” có thể “tiến hóa” rất nhanh đề “đề kháng” phản biện). Hiện tại, Answers In Genesis, một tổ chức sáng tạo luận Trái Đất trẻ hàng đầu cho rằng “họ” (family) là bậc gần đúng nhất với “loại” (ờ… nếu vậy thì con người hoàn toàn chung một “loại” với tinh tinh, họ Hominidae, chắc họ chừa “loại” này ra). Và ước tính có 950 họ/loại động vật, tương đương khoảng 2000 động vật trên cạn có xương sống đã lên tàu Noah, rất khiêm tốn so với sách “Tiến hóa hay Tạo hóa?”.

Bước lên con tàu Noah không có cọp hay sư tử, mà là một con mèo đa dụng có thể tiến hóa thành 38 loài trong họ Felidae.

Nhưng tới đây chúng ta phải nhận ra hai điểm rất bất ngờ…

Mô hình thuyền Noah chẳng những không chống lại thuyết tiến hóa, mà còn đề xuất tiến hóa siêu tốc!!!

Đây là con báo săn gê-pa (cheetah).

Bạn có thể lấy một mẩu da của bất kì con báo săn nào và ghép cho một con bất kì khác, không hề phải lo hiện tượng đào thải. Đó là do báo săn đã phải trải qua vài đợt thắt cổ chai từ 100,000 đến khoảng 10,000 năm trước, khi 75% thú có vú lớn ở Bắc Mỹ (nguyên quán của báo săn) bị tuyệt chủng trong kỷ Pleistocene. Một nhóm nhỏ còn lại buộc phải giao phối cận huyết để gây lại số lượng, nên hiện các quần thể báo săn đang gặp phải đủ thứ vấn đề như chất lượng tinh trùng kém (80% dị dạng), đuôi gãy gập, MHC (nhóm gen kháng thể) gần như y như nhau – nghĩa là hệ miễn dịch của chúng đồng bộ đến đáng quan ngại… nên báo săn gê-pa là ví dụ kinh điển về sự “bần cùng về di truyền”, khánh kiệt đa dạng gen (Theo Phys.org). Đa dạng gen là sao? Khi người ta nói đến gen tóc đen, gen tóc nâu, ý người ta là các phiên bản gen, các đoạn ADN cùng vị trí (locus) trên nhiễm sắc thể, cùng quy định một loại tính trạng nhưng khác nhau đôi chút. Ví dụ, đậu Hà Lan có gen quy định kết cấu vỏ hạt, và gen ấy có phiên bản tạo ra hạt đậu trơn hay nhăn, đó là các allele (a-len); quần thể mà mỗi gen có nhiều phiên bản thì là đa dạng. Báo săn chỉ có 5% lượng phiên bản cần có trong một quần thể khỏe mạnh của đa số các loài còn sống khác.

Vậy, nếu mà tất cả những sinh vật chúng ta thấy ngày nay đều bắt nguồn từ 2 hoặc 7 cặp được cứu, thì mọi loài đều đã trải qua một đợt thắt cổ chai vô cùng vô cùng chặt, và các nhà sáng tạo luận Trái Đất trẻ vui vẻ thừa nhận điều đó.

Một hình ảnh từ một bảo tàng về sáng tạo luận, cho chúng ta thấy ở Mỹ chúng ta có thể mua được những gì với rất nhiều tiền. May là chưa mua được hệ thống giáo dục & luật pháp.

Trong trường hợp 1.

Số loài trên Trái Đất hậu Đại hồng thủy chỉ có giảm chứ không có tăng, tuyệt đại đa số loài phải gầy dựng lại số lượng từ một cặp duy nhất. 10,000 năm tiến hóa không tạo ra đủ đột biến ngẫu nhiên để khôi phục tính đa dạng cho loài báo săn; mà nên nhớ là thắt cổ chai của báo săn chưa bao giờ ngặt nghèo đến mức chỉ còn một cặp. Vậy mà tất cả những loài thú có vú khác, với chỉ tối đa bốn phiên bản của mỗi gen làm vốn, sau chỉ 4000 năm với sự trùng huyết liên tục đã tạo ra độ đa dạng gen bùng nổ như ngày nay…

N

Biểu đồ thể hiện số lượng đột biến trung bình trên cặp nucleotide với gen cytochrome b của các động vật trên cạn, màu càng tối thì càng đa dạng.

…mà không có tiến hóa, mà không có thêm “thông tin”, mà đột biến chỉ gây chết hay quái thai.

N

Hình minh họa mô típ kết dính của MHC người và các thú khác.

Chúng ta biết rằng một con vật thì có từ hàng chục đến hàng trăm nhiễm sắc thể, và trên nhiễm sắc thể thì có rất nhiều vị trí, mỗi vị trí có thể có nhiều allele (tính đa hình, polymorphism. Ví dụ như MHC đã nói ở trên là nhóm gen đa dạng nhất ở người và thú khác, lên đến trên 16,000 alleles). Một đống allele này ở đâu ra nếu không phải do đột biến làm thay đổi 4 (14 với động vật sạch hay 16 với người) allele gốc của mỗi gen ban đầu? Giả sử vì sao đó mà chỉ có đột biến có lợi hay trung tính xuất hiện, thì số lượng & tần suất đột biến cực lớn như vậy dội bom trên mọi locus chỉ trong 4000 năm là một tốc độ đột biến quá cao so với mô hình thuyết tiến hóa. Nhưng quan trọng nhất là điều này hết sức mâu thuẫn với một con số cũng không biết đâu ra ở phần sau của cuốn sách.

Thật kì lạ, con số quan trọng như thế này lại không có một nguồn dẫn, hay một cái tên có thể truy nguyên.

Nhưng những chỗ “nhược” của tiến hóa như lời của Darwin thì lại có nơi để kiếm.

Và các con số rìa rìa như số hợp tử cần phải cấy để đậu được con cừu nhân bản Dolly thì lại có nguồn!

Có một nhà báo nổi tiếng đã từng nói: “Cái gì có thể được khẳng định không cần bằng chứng, thì cũng có thể bị bác bỏ không cần bằng chứng.”

Ngược lại, trong trường hợp 2,

Số loài phải tăng, và tăng tàn bạo. Những người theo trường phái này lợi dụng công nhận tiến hóa “nhỏ”, thậm chí loài này qua loài khác, miễn “con” này không biến thành “con” kia, không phải tiến hóa “lớn” (“” để lưu ý khái niệm tiến hóa nhỏ/lớn của họ khác với định nghĩa của khoa học). Nhưng thuyết tiến hóa, ngược lại, cũng không thể chấp nhận mô hình này, bởi từ 950 loại mà ra 8.7 triệu loài, trong vòng 4000 năm, thì đó không phải là tiến hóa cao tốc, tăng tốc hay siêu tốc mà là tiến hóa thần tốc!

BioLogos nhận xét:

“Đáng lưu ý là, trước thời Darwin chưa có ai từng đề xuất hiện tượng phân loài nhanh chóng sau Đại hồng thủy trong mô hình Sáng thế 6 ngày. Kinh Thánh không yêu cầu diễn giải “loại” theo hiện đại, và Giáo hội trong lịch sử cũng chưa từng chấp nhận rằng hàng trăm loài tiến hóa từ các tổ tiên chung Chúa Trời đã cứu trên Thuyền. Chỉ tới khi Thuyền trở nên quá chật chội thì giả thiết thay thế này mới trở nên cần thiết. Ngược đời thay, phương án này lại công khai chỉnh sửa một cách diễn giải Kinh Thánh để chiều theo các phát kiến khoa học hiện đại, một tội chính các nhà sáng tạo luận Trái Đất trẻ thường xuyên chụp mũ cho những người khác.”

Một “loại” trong Ark Encounter, một khu công viên hiện thực hóa những suy đoán của các nhà sáng tạo luận Trái Đất trẻ. Theo họ, các “loại” sẽ không giống với bất kì loài nào ta thấy ngày nay, do chúng có tiềm năng tạo ra rất nhiều loài khác nhau. Tôi đang phân vân không rõ tôi cảm thấy cặp vợ chồng này thấy cưng hay thấy gớm.

Và nhóm này cũng không tin tiến hóa có thể tạo ra thêm “thông tin”, mà chỉ “khai thác” và “tuyển chọn” những khác biệt về gen có sẵn trong quần thể (chưa nhà sinh học nào từng nói chọn lọc tự nhiên có thể làm chuyện gì khác ^^).

Nhiều người trong chúng ta đã từng nhìn thấy các hình tượng về sư tử nằm bình yên bên cừu trong các câu chuyện về Vườn Địa Đàng. Nhưng bước lên Thuyền không phải là sư tử,  mà là con “le chung chung”, và con cháu của nó thể tái hiện lại chính xác con sư tử, cọp, beo, báo… kính thưa gia đình mèo. Nếu Chúa Trời không can thiệp trực tiếp (người sáng tạo luận Trái Đất trẻ chỉ tin một lần Sáng thế duy nhất), và tiến hóa không thể tạo ra “thông tin” mới, thì làm sao con mèo quốc dân có thông tin của cả đám trên? Tương tự với hàng trăm loài vật đã được nêu tên cụ thể trong Kinh Thánh khác.

Một cách giải thích là thông tin di truyền “ngầm”, tức Chúa Trời cài đặt sẵn cho một khoảng “biên độ thay đổi”, vô môi trường mới là được bật lên, chỉ không qua thành “loại” khác được thôi. Cũng như chim được gài sẵn gen tạo răng để nhai cỏ hay khui dừa khi cần (nhưng bật lên rồi thì khỏi nở luôn), mọi con mèo bự nhỏ đều “ém” đủ gen để thành sư tử, chỉ đợi thời cơ đến là “bung lụa”. Câu trả lời này có thể tạm chấp nhận trước khi các bộ gen được giải mã, nhưng bây giờ dựa vào ADN, ta có thể hiểu một cách đơn giản con sư tử có một phần lớn gen chung với mèo (thuộc chi Felis), và sẽ có một mớ allele nữa chung với cọp (cùng chi Panthera) mà mèo không có, và sẽ có một nắm allele với tần suất riêng biệt khiến nó là sư tử chứ không phải con nào khác. (Chúng ta cũng phải thắc mắc là nếu các bảo bối để dành này hữu hiệu đến vậy thì tại sao lại có sự tuyệt chủng sau khi phát sinh loài hậu Đại hồng thủy, như chỗ con khủng long trong sơ đồ thắt cổ chai trên).

Lược đồ tối giản họ nhà mèo, họ nhà chó. Dân mình đụng con mèo nào bự bự mà không phải con sư tử hay cọp cũng kêu là “báo”, “beo”, nhưng thực ra báo sư tử (puma) không thuộc cùng chi với cả báo săn lẫn sư tử, mà cùng chi Felis với con “le meo meo” chúng ta nuôi ở nhà :D.

Bây giờ thì các tổ chức như Answers In Genesis chuộng ý tưởng nhờ chọn lọc tự nhiên xáo trộn biến dị. Cái này khác ý tưởng trên ở chỗ đó không phải một lộ trình viết sẵn để thành con gì cụ thể, mà chỉ là một lượng “cực lớn” biến dị được nạp sẵn trong bộ gen con vật, như một cỗ bài đủ 52 lá, mà sau mỗi sự kiện tách loài là chia nhỏ cỗ bài ra. Không có đột biến có lợi, không có thông tin mới, chọn lọc tự nhiên cũng không phải là tiến hóa. Họ viện dẫn sự đa dạng của loài chó để minh họa cho việc chọn lọc tự nhiên có thể sử dụng “tiềm năng di truyền” trong nội bộ “loại” để tạo ra rất nhiều dạng khác nhau trong một thời gian ngắn. Trong 10,000 năm nay chó đã xào ra được đủ màu sắc, kích cỡ, hình dáng, chiều dài lông, độ bẹt của mặt v.v từ bỏ vừa cái ly đến to như con bê, từ dắt người mù đến chạy đua, canh kho hàng, đào nấm và bắt tội phạm… Vô số khác biệt vậy mà chó vẫn là chó, thậm chí chỉ là một phụ loài của sói, nào có thành “con” gì khác? Nếu nội đám chó có thể ra đủ thứ kiểu hình như vậy, thì việc các loài trông chẳng khác nhau lắm như sói, cáo, sói đồng cỏ và chó rừng tiến hóa từ một “loại” trong vòng 4000 năm cũng khả thi chớ! Đây lại là một ngộ nhận tai hại nữa, dù nghe rất bùi tai người không chuyên.

 

 

Chó không những trông khác nhau rõ rệt, mà có những loài chó xúc phạm tổ tiên 18,000 đời nhà sói – chúng trông còn không giống sói bằng con cáo!

Nguồn gốc của các giống chó từ một loài duy nhất chẳng thể so sánh, về mặt thời gian hay cơ chế, với nguồn gốc của các loài họ chó khác nhau, chứ đừng nói nguồn gốc cả sinh giới hậu Đại hồng thủy.

Thứ nhất: Không hề có ghi chép từ Kinh Thánh hay các nguồn làm chứng khác về sự sản sinh loài mới thần tốc võ đoán nêu trên. 3000 ngàn loài mới mỗi năm trong 3000 năm để đạt, trừ hao tí, 8.7 triệu – không phải ít đâu, 9 loài xuất hiện một ngày đấy  (Để so sánh, với 8.7 triệu loài và tốc độ tuyệt chủng 0.01%/năm, thì một ngày chúng ta mất 2 loài). Chắc chắn phải có ai đó nhận thấy cuộc bùng nổ này chứ, các nền văn minh cổ đại như Trung Hoa, Ai Cập sao chẳng ghi chép gì? Nhưng sử liệu về thuần hóa chó thì có rất nhiều, còn Kinh Thánh cũng đã miêu tả loài cáo trong Song of Songs 2:15; Ezekiel 13:4; Matthew 8:20, cho thấy vài ngàn năm nay chúng không thay đổi gì đáng kể.

Phải chăng bên dưới con chó Đan Mạch khổng lồ là một con linh cẩu? Nó thuộc nhóm dạng mèo (Feliform) mấy ông nội! Sinh học vui: Mõm linh cẩu dài như vậy có thể do chúng săn mồi kiểu chó, rượt đuổi và cắn thay vì chụp bằng đôi vuốt to khỏe như mèo. Tuy nhiên, chúng giống mèo ở chỗ chúng thường xuyên liếm để làm sạch bản thân và dùng mùi hương để đánh dấu lãnh thổ.

Thứ hai: Người theo sáng tạo luận chỉ vin vào sự khác biệt bề ngoài hết hồn của chó mà quên rằng ngoại hình chỉ là một phần nhỏ của sinh học. Từ một lượng lớn dữ kiện về ADN, ta biết rằng dù nhìn khác nhau cỡ ngao tạng và phốc sóc, hai con chó bất kì sẽ giống nhau hơn hai con người bất kỳ, bởi vì chó kém đa dạng hơn sói rất nhiều (dù nhìn con sói nào cũng giống con sói nào). Cũng như báo gê-pa, chó cũng là kết quả của một đợt thắt cổ chai, ở đây là việc con người thuần hóa những nhóm nhỏ sói đến gần khu vực mình sinh sống. Trong khi đó, giữa các loài họ chó khác như cáo, sói đồng cỏ, chó rừng có khoảng cách ADN lớn đến nỗi so với chúng khoảng cách giữa người và tinh tinh trông gần sịt, nên việc chúng là các loài riêng trong khi chó chỉ là phụ loài, là hoàn toàn hợp lý.

N

Phả hệ từ dữ liệu ADN ti thể của họ chó và thú ăn thịt khác cũng như 800 giống chó. Độ dài của nhánh cho thấy khoảng cách di truyền. Có thể thấy, so với sự khác biệt giữa sói với cáo hay chó rừng, 800 giống chó cứ như anh chị em song sinh.

Thứ 3: Họ cũng quên rằng chó là một sản phẩm nhân tạo, không phải chọn lọc tự nhiên. Tuy có cùng một tiền đề (“có những sinh vật được sinh sản nhiều hơn những sinh vật khác”), nhưng chọn lọc nhân tạo, với ưu tiên cho lợi ích của con người thay vì chính con vật, thường đi ngược lại với những gì “tự nhiên” sẽ làm. Chọn lọc nhân tạo tập trung tổng lực vào một vài tính trạng mà bỏ mặc, hoặc thậm chí hy sinh, hàng trăm tính trạng khác. Ví dụ, người ta chỉ chăm chăm chọn chó đốm sao cho thiệt nhiều đốm mà không quan tâm tới những đặc điểm liên kết như bệnh điếc. Chọn lọc trong tự nhiên sẽ chẳng bao giờ đánh đổi một năng lực sinh tồn thiết yếu như thính giác lấy một thứ phù phiếm như vậy. Chọn lọc tự nhiên chọn lọc “nguyên con”, lấy những cá thể có tổng hòa/tổ hợp tốt nhất của hàng trăm gen đóng góp vào độ thích nghi chung – nên áp lực lên một phiên bản gen bất kì ít khi nào quá dữ dằn (bấm đây đọc một trường hợp dữ dằn) => phải hàng trăm thế hệ mới nhìn thấy thay đổi. Sự biến thiên 360 độ của chó là ngoại lệ, không phải quy luật.

Thứ 4: Muốn xài chọn lọc tự nhiên thì phải có nguyên liệu để “nuôi” chọn lọc tự nhiên. Nguyên liệu của chọn lọc là đột biến, biến dị, phiên bản. Answers In Genesis lòe chúng ta bằng cách nói rằng những sinh vật đầu tiên, ví dụ như Adam, sẽ được Chúa Trời nạp độ đa dạng tối đa: 3 tỷ nucleotide thứ nhất của ông sẽ có trình tự khác với 3 tỷ nucelotide thứ hai, giữa chúng sẽ có 10 triệu khác biệt về di truyền. Có phải điều đó có nghĩa là một cặp sinh vật như thế có thể tạo ra 20 triệu đứa con khác nhau không? Không. Nếu dễ thế thì con báo gê-pa đâu có bần cùng :P. Cần nhớ, hai phần của bộ nhiễm sắc thể có khác nhau nhiều hơn như thế đi chăng nữa (10 triệu nghe bự chớ thật ra chỉ là 0.3% của 3 tỷ), thì một con thú 2n vẫn chỉ có tối đa 2 phiên bản gen tại mọi vị trí. Tức con cháu của các loại được cứu cũng vẫn chỉ có tối đa 4 tổ hợp allele cho mỗi gen. Lại trở về vấn đề allele mới ở đâu ra?

Nhưng còn một bất ngờ lớn hơn nữa…

Mô hình tiến hóa “nhỏ” từ Thuyền Noah trao cho tiến hóa hầu như tất cả những năng lực người chống tiến hóa khăng khăng tiến hóa không thể làm… 

  • Như đã nói, cá không được cứu trên Thuyền, nên sống chết là mặc bây. Những con cá sống sót buộc phải là dạng cần ít oxy, sống gần mặt nước, nước lợ (do nước mưa trộn nước mặn nên cá sông, cá đồng, cá biển chết gần sạch), ăn xác thối (vì 2 phần bùn làm nắng không xuyên qua nước được, các loại thực vật/thực vật phù du bị chết, nên động vật phù du bị chết [khoan, vậy phù du tuyệt chủng rồi! Bỏ qua, đang nói cá], cá ăn phù du hay thực vật biển chết)…. Vậy, từ một (vài?) dạng cá rất lì đòn và có các đặc điểm rất cụ thể như trên, ngày nay chúng ta có cá nước ngọt, nước mặn, nước lợ; sống đáy sâu, đáy cạn, tầng giữa, tầng mặt; cá ăn phù du, thực vật, dọn dẹp, ăn cá khác; cá đuối lấy da làm vây bơi, cá bơn lệch sang một bên như cái dĩa, cá nóc phồng gai, cá hề miễn dịch với độc san hô (và tự đổi giới tính), cá ngựa đực có chỗ ấp trứng, cá lồng đèn có cái cần câu phát sáng ưới đáy sâu … tất cả đều có chế độ ăn uống, chuyển hóa khác nhau. Vậy, theo mô hình tiến hóa “nhỏ” từ Thuyền Noah, tiến hóa có thể biến đổi không chỉ hình dáng mà còn sinh lý đáng kể để giúp sinh vật thích nghi trong rất nhiều kiểu môi trường. <Rất tiếc, tôi không tìm được kẽ hở nào trong mô hình này để cá voi, cá heo có thể sống.>

galliform-tree-d-naish-turkeys-chickens

N

  • Chim vô cùng đa dạng về màu sắc và hình thái lông. Trên hình là một vài thành viên của BỘ gà (Galliformes – nghĩa là dạng gà) mà nhà STL TĐ trẻ cho rằng là cùng một “loại” (Loại Chim trên cạn, Landfowl Kind). Bộ này bao gồm đến năm họ chim, với những đại diện lộng lẫy nhất của điểu giới như công, trĩ. Các bạn chỉ cần nhìn lông của chúng coi có bao nhiêu điểm chung, bao nhiêu điểm riêng. Tất cả những điểm riêng ấy, dù là màu sắc, kiểu dáng, hoa văn, sự phân bố… đều là tác phẩm của tiến hóa, bởi vì tổ tiên chung lên Thuyền của chúng không hề giống chúng. Vậy, theo mô hình tiến hóa “nhỏ” từ Thuyền Noah, tiến hóa hoàn toàn có thể đẻ ra được những màu sắc, kiểu dáng tuyệt đẹp mà ông Chu Tất Tiến đã hết lời ca ngợi và phán rằng ngay cả con người cũng chẳng bao giờ tạo ra được, huống hồ tiến hóa đui mù.
  • Con “le chung chung” phải mang theo lối sống điển hình của nhà mèo: sống đơn độc, săn mồi phục kích. Vậy mà nó có thể tiến hóa ra con sư tử, sống bầy đàn, săn mồi tập thể, với cả một hệ thống tổ chức và quy định xã hội nghiêm ngặt (con đực lớn lên bị trục xuất, đám trai đẹp này hợp sức lại lật đổ vua sư tử của những bầy khác, sau đó giết sạch con non để bỏ giống lứa mới, repeat). Mèo quốc dân còn tạo ra loài báo săn, với tác phong rượt con mồi chạy… như chó :D. Đây là những điều hoàn toàn mới lạ trong dòng họ.  Vậy, theo mô hình tiến hóa “nhỏ” từ Thuyền Noah, tiến hóa hoàn toàn có thể đẻ ra được hành vi và tập quán.
  • Cuối cùng, không có cái chết trước khi có Sa Ngã. Cá sấu hay gì đó không phải một cỗ máy giết chóc, nó dùng hàm răng Héc-quyn của mình để… làm gì đó khác ngoài kéo ngựa vằn xuống nước đàm đạo. Ngay cả vi khuẩn, virus cũng đều vô hại. Vậy “thông tin” phức tạp cần cho việc săn mồi và tự vệ sau này ở đâu ra, nếu không phải do tiến hóa? Là do thế giới suy đồi? Thật khó chấp nhận rằng vì thoái hóa nên báo săn mới có thể chạy 120 km/h, cá mập có thể ngửi thấy mùi máu ở nồng độ 1 phần triệu, cây cối có thể gài bẫy côn trùng, nhím có thể găm một nùi kim với mấu chuyên dùng để đại náo trong thịt kẻ thù, và thằn lằn có thể mọc lại cái đuôi có thể tự đứt để nghi binh. Một ví dụ yêu thích của người chống tiến hóa là con bọ “bom” (bombardier bettle, tên gọi chung của hơn 500 loài bọ có khả năng xịt một hỗn hợp hóa chất) nói rằng nó không thể tiến hóa, bởi vì nếu thiếu bất cứ thành phần nào trong chuỗi phản ứng, hay về sinh lý con vật, thì cơ chế tự vệ này không có tác dụng. Thật ra các nhà khoa học đã cho thấy là từng bước tiến hóa đều có giá trị của nó, và tôi sẽ trình bày rõ hơn trong một bài EvoThink tới. Câu hỏi ngược lại là:  Trong một thế giới hoàn hảo, Chúa Trời tạo ra một con vật có thể điều khiển vòi xịt tứ tung một dung dịch lượm nồng, bốc khói, phỏng rát hơn 100 độ để làm gì? Chưa hết, đó là trước lũ Noah, sau đó, chúng sẽ phải tiến hóa lại, và từ một nguồn gen ban đầu rất hẹp. Hoặc là các cơ chế phòng vệ và giết chóc cực tinh vi có thể tiến hóa và đã tiến hóa, hoặc là chúng nằm đâu đó trong thiết kế ban đầu, nhưng trở lại vấn đề chứa ở đâu trên.

 

Sau khi gần như trực tiếp thừa nhận một loại tiến hóa có sử dụng doping để thuận tiện cho việc phục hồi của động vật hậu Đại hồng thủy, các nhà STL này vẫn còn mấy câu hỏi phải trả lời:

Châu Đại Dương là thánh địa của thú đơn huyệt, chim không bay và thú có túi; các loài chúng ta thấy ngày nay không hề có mặt ở bất cứ nơi nào khác, và những con như koala và wombat (nhìn giống con gấu nhỏ, đào hang) thậm chí còn không có hóa thạch ở đâu khác. Vấn đề là:

_Làm sao mà chúng di chuyển từ Đỉnh Ararat mà tới được Úc, mà không để lại gì trên đường đi?

_Kangaroo nhảy cao nhảy xa, thylacine mảnh dẻ nhanh nhẹn, moa chân dài tới nách sao lại có thể đến nơi cùng lúc với đám ọc ạch, lờ khờ như thú mỏ vịt, chuột chũi có túi hay gấu koala?

_Không lẽ đám âm bư hột vịt lộn kể trên chạy nhanh hơn lũ trâu bò, gấu, ngựa để đến Indonesia trước khi nó tách ra khỏi Úc hay sao mà không hề có một con thú có nhau thai ở đó trước khi con người tới lập thuộc địa?

_Chúng có thể đến Úc dưới dạng vài cặp thú túi, thú đơn huyệt đa dụng, nhưng hiện chúng đã tiến hóa đủ dạng để chiếm lĩnh hết các thị phần sinh thái ở châu lục này: có sóc bay, thú ăn kiến, dạng chuột, dạng mèo, ăn cỏ, ăn lá, ăn thịt… đều có túi/đơn huyệt. Nếu tiến hóa có thể tạo ra nguyên một cây bài đủ lá như vậy, tại sao người theo sáng tạo luận cho rằng tiến hóa không thể vượt qua 2% khác biệt giữa người & tinh tinh?

À, sém quên đám thực vật. (Thiệt tình, lúc nào chúng cũng phải làm nền cho lũ động vật. Chắc EvoLit cần phải có một tháng tôn vinh cây cỏ rong rêu quá ^^!) Một cơn lũ dài hơi và thảm khốc như vậy thì chắc chắn cây lớn chết hết rồi, làm sao còn tái thiết thực vật sau này? Người sáng tạo luận Đại hồng thủy trả lời rằng vẫn được, bằng những hạt giống sót lại. Nhưng chúng ta hãy nghĩ xem, cơ may nào để :

…đủ số lượng hạt mầm sống sót thần kì sau một trận lũ quy mô toàn cầu có thể bào đá thành trầm tích?

…đám hạt ấy không bị nảy mầm quá sớm (hạt ngâm trong nước mà, vỏ bị bào mòn nữa) khi mà chưa có đất cho chúng bám rễ => chết. Tuy nhiên, thật tréo ngoe cho những người hay bảo Charles Darwin chỉ ngồi chém gió chứ không làm thí nghiệm,   chính ông cụ đã cứu họ điểm này bằng loạt thí nghiệm ngâm hạt giống trong nước muối và phát hiện chúng vẫn sống sau hơn chục ngày, cá biệt có loài đến hơn 4 tháng!

Nhưng còn vấn đề này nữa: đám hạt ấy được đưa tới một nơi có nhiệt độ, lượng mưa, thổ nhưỡng, khí hậu & ánh sáng phù hợp cho từng loài, í lộn, loại? Đừng quên cả thế gian sau lũ đều bao phủ trầm tích đã bị tách ra. Cứ thử trồng một hạt giống, đã ngâm nước muối pha sình trong một năm, trên thứ đất phù sa mặn chằn lõng bõng (bão hòa nước) xem.

…giả sử chúng sống được, hoa của chúng sẽ phải đợi bao lâu để chờ lũ chim & côn trùng từ đỉnh núi Ararat di cư về?

Vụ này phải nhờ các chuyên gia về xác suất hình thành sự sống tính giùm.

À mà chúng phải tăng trưởng nhanh cỡ nào để nuôi những loài ăn cỏ… thôi, không thành vấn đề, bọn đó lo chạy khỏi đám thú ăn thịt còn không kịp rồi.

Bạn có bao giờ để ý tại sao cái gọi là mùi nho và mùi chuối chẳng giống chút nào với nho và chuối chúng ta hay ăn không? Đèn cầy hương chuối, sáp khử mùi hương chuối, và kẹo chuối công nghiệp có mùi như ờ… kẹo, chứ không phải nải chuối mua ngoài chợ. Tôi từng mặc định rất “triết học” rằng đám “tinh trái cây” (essence) đó là nỗ lực hết sức của phòng bào chế rồi, và các nhà sản xuất đã dạy chúng ta kết nối hóa chất đó với chuối, như Coca Cola dạy chúng ta liên hệ thứ nước nâu nâu, ngọt và rát của họ với cơn khát trong một ngày nóng nực. Nhưng thực ra có một giống chuối thật sự giống với cái mùi hóa chất isoamyl acetate – “dầu chuối” ấy, tên là Gros Michel, từng rất được yêu quý ở các chợ phương Tây. Nhưng một loại nấm quái ác là Fusarium oxysporum – “Căn bệnh Panama” đã gần như quét sạch Gros Michel trong thế kỷ 20, khiến người ta phải thay thế bằng các giống chuối có mùi “tự nhiên” hơn (Hahaha). Mặt khác, thực sự có một giống nho màu xanh lam ngả tím cũng có mùi y như “tinh nho” và kẹo nho, nho Concord, và nó vẫn sống khỏe mạnh. Tại sao nho Concord không yếu đuối như chuối Gros Michel trước dịch bệnh? Bởi vì chuối là cây trồng nhân bản vô tính, lệ thuộc vào con người để nhân lên những bản sao nghèo nàn biến dị, còn nho có thể được trồng bằng hạt, thành quả của sinh sản hữu tính, khiến các cá thể đều khác nhau trong quần thể, nên khó có khả năng một bệnh hay điều kiện bất ngờ giết hết cả nút. Và nguyên đoạn văn dài tưởng chừng rất không liên quan này về mùi hương, marketing và nấm, tôi đã trả lời “Có” với câu hỏi của bạn rằng thực vật có cần phục hồi sự đa dạng sau Đại hồng thủy không. Ờ mà bạn có thắc mắc điều đó không, hay thật sự tôi đã đúng và không ai thèm đếm xỉa tới thực vật :(( ? Chắc chắn phải có một tháng tôn vinh cây cỏ!

cat startled by banada.gif

Chúng ta đang bàn về mèo, tôi đã sai khi bàn qua chuối. Đây, đền bù cho bạn!

Phép màu? Phép màu có thể giải quyết tất cả những điều này? Nhắc đến phép màu thì lại lùm xùm nữa, vì nó giải quyết được một thì lại đẻ ra mười câu hỏi “Tại sao không?” Văn hào trào phúng Mark Twain hỏi chơi rằng nếu Chúa Trời chỉ cần 1, 2 ngày để tạo ra hết thảy muông thú, thì tại sao không để chúng chết hết trong lũ (99.99[…]99% cũng gần như 100% rồi) sau đó dành 1, 2 ngày sản xuất lại khi cần, mà để chúng lênh đênh 11 tháng trên một hải trình thiếu thốn? Nếu đã muốn cứu chúng bằng phép màu thì cho chúng bơi đội hình hết có phải ấn tượng hơn không!

***

CHUNG CUỘC

Chúng ta đã giả vờ đủ nhiều rằng mô hình Trái Đất trẻ – Đại hồng thủy có thể cạnh tranh với khoa học bởi đơn giản, thực tế là Trái Đất không trẻ, và đại hồng thủy chưa từng có quy mô toàn cầu.

Đầu tiên, tuổi của Trái Đất là 4.54 +/- 0.05 TỶ năm. Từ thế kỷ 20, đây là con số đã được xác định bằng nhiều phương pháp độc lập của nhiều ngành khác nhau, không phải tuyên bố của thuyết tiến hóa, không cần bàn cãi. Vì sao chúng ta có thể tin tưởng con số này?

Bởi vì nó đã được độc lập xác nhận. Để trả lời câu hỏi “Trái Đất bao nhiêu tuổi?”, chúng ta đã phải vận dụng các định luật về nhiệt và truyền nhiệt, cũng như các thuộc tính của hạt nhân. Các hạt nhân không ổn định của một số chất, VD như Uranium phân rã với tốc độ rất chính xác. Đây là một điều quan sát được. Lời giải thích xuất phát từ vật lý lượng tử. Quan sát thu được (hạt nhân Uranium phân rã thành hạt nhân khác với tốc độ xác định) và lời giải thích (vật lý lượng tử) kết hợp lại cho phép chúng ta đo đạc chính xác tuổi của đá và các vật liệu chứa các chất khác nhau khác. Những số liệu đo đạc bằng nhiều phương pháp khác nhau trên cả vật liệu trên Trái Đất, vật liệu từ các thiên thạch đã va vào Trái Đất từ xa xưa, và ngay cả đá trên mặt trăng đều cùng chỉ về một độ tuổi duy nhất – 4.54 tỷ tuổi, với độ sai lệch chỉ 1%.

Bởi vì nền văn minh của chúng ta là minh chứng những phương pháp ấy đúng. Tuổi của Trái Đất là một câu hỏi nằm trong mạng lưới khổng lồ của khoa học. Nếu các phương pháp đo đạc đồng vị phóng xạ dựa trên các quy luật vật lý không thể định tuổi chính xác hành tinh này, thì hầu hết các công nghệ thiết yếu của chúng ta như viễn thông hay năng lượng nguyên tử cũng sẽ không thể hoạt động chính xác và ổn định được, vì chúng cũng dựa trên chính những quy luật ấy. Việc tôi và bạn có thể ngồi trước máy tính hay điện thoại ngay lúc này cho thấy thế giới có những quy luật khách quan, nhất quán, và đáng tin cậy, và những quy luật đó cho ta biết một độ tuổi duy nhất cho Trái Đất – 4.54 tỷ tuổi (Giờ tôi đã nói ba lần, chúng ta đều đã thuộc bài).

Sơ đồ của Aron Ra.

Thứ 2, KHÔNG HỀ có một cơn đại hồng thủy toàn cầu. Đây là kết luận đã được xác định bằng nhiều phương pháp độc lập của nhiều ngành khác nhau, không phải tuyên bố của thuyết tiến hóa, không cần bàn cãi.

Và trong trường hợp bạn nghĩ rằng đây lại là một cuộc báng bổ hội đồng của lũ vô thần: trang Catholic.com (một trong những trang web hàng đầu về biện giải niềm tin Catholic) và Biologos.org (trang web của các nhà khoa học theo Ki-to Giáo) đều thừa nhận huyền thoại về đại hồng thủy có nhiều điểm tương đồng sâu sắc với truyện kể của các nền văn minh đa thần, và có nhiều bằng chứng cho thấy chúng cùng kể lại một sự kiện lịch sử có quy mô nhỏ hơn rất nhiều. Truyện thuyền Noah thực ra là công cụ ngụ ngôn viết bằng câu chữ đơn giản, ước lệ và mang tính ẩn dụ để truyền tải thông điệp thật sự của Thiên Chúa về nhân loại, tội lỗi và sự cứu rỗi đến với bá tánh nhận thức còn hạn chế trong bối cảnh Israel cổ đại. Vậy, Catholic.com & Biologos.org, đại diện cho một bộ phận lớn tín đồ hòa thuận với khoa học, cho rằng cách hiểu đại hồng thủy như một trận lụt toàn cầu đúng nghĩa đen không phải là diễn giải duy nhất, càng không phải là duy nhất đúng, và không hề bất khả xâm phạm hay không thể tách rời với niềm tin Ki-to Giáo. (Xem các tuyên bố của hai tổ chức này ở phần sau)

Ki-tô hữu Paul H. Seely trình bày một bằng chứng rất nặng ký – các lớp băng bao phủ hầu hết bề mặt của Greenland, dày gần hai dặm. Mỗi năm tuyết tích tụ trên đó và đè ép các lớp tuyết bên dưới thành các lớp mỏng hơn và thành băng. Trong một mẫu lõi băng được đục ở đó (GISP2), người ta đã đếm, định tuổi bằng đồng vị phóng xạ và đối chiếu (đến năm 2005) 110,000 lớp hàng năm đầu tiên bằng nhiều cơ sở khác nhau: nồng độ bụi thay đổi tùy mùa, hình dạng các tinh thể băng khác nhau giữa mùa hè & mùa đông, khả năng dẫn điện của băng khác nhau giữa mùa hè & mùa đông, tỉ lệ Oxy 18/Oxy 16 khác nhau giữa mùa hè & mùa đông, cùng độc lập xác nhận đó là các lớp băng hàng năm. Ngoài ra người ta cũng đã đối chiếu chúng với các đợt phun trào núi lửa và các sự kiện có thể định tuổi xa nhất có thể. Bởi vì khối băng này sẽ nổi nếu có đại hồng thủy toàn cầu, lõi băng được nghiên cứu kỹ lưỡng này là bằng chứng rằng không hề có trận lũ ngập hết Trái Đất nào trong vòng 110,000 năm qua.

N

Tuy nhiên, các nhà sáng tạo luận Trái Đất trẻ cho rằng việc định tuổi bằng đồng vị phóng xạ là không đáng tin cậy, bởi vì tốc độ phân rã hạt nhân trong quá khứ có thể nhanh hơn, lượng C-14 ban đầu không xác định, hay điều kiện vi diệu của Đại hồng thủy có thể biến đổi tốc độ phản ứng, dẫn chứng bình nước nấu độ cao này sôi khác độ cao kia, có tạp chất khác, có nhiệt độ cũng khác (họ không phân biệt được giữa phản ứng cấp độ nguyên tử, phân tử và dưới nguyên tử). “Cái gì có thể khẳng định không cần bằng chứng…”, à mà thôi, cứ phản biện bằng bằng chứng đi cho chắc. Ta đã nói về đối chiếu các luồng bằng chứng độc lập, giờ cùng xem mần răng mà đối chiếu. Trong ví dụ lấy từ BioLogos này, ta sử dụng vân tuổi cây, các lớp trầm tích đáy hồ hàng năm (varve), và đồng vị Carbon 14, nhưng không phải theo cách thông thường.

Chúng ta sẽ không dùng C-14 định tuổi mẫu vật trực tiếp (vì chúng ta đang cãi vụ đó mà ^^), mà đơn thuần đo lượng C-14 có trong mẫu vật (trình bày thông qua log tự nhiên). C-14 phân rã theo thời gian, nên nếu mỗi vân tuổi là một năm, ta trông đợi lượng C-14 giảm dần qua từng vân. Hiện chúng ta có những cây còn sống được xác minh chính xác hơn 5000 năm tuổi, và biểu đồ sau cho thấy lượng C-14 trong 4000 vân của các cây này. Đường gần như thẳng cho ta thấy có thể có đôi chỗ các vân bị thiếu hay dư, nhưng nhìn chung mỗi vân là một năm, ít nhất là trong vòng 4000 năm trở lại. Đường thẳng (thay vì cong lên hay cong xuống), cũng xác nhận rằng tốc độ phân rã C-14 luôn ổn định trong khoảng thời gian đó. Ngoài ra, đo đạc lượng C-14 trong các lớp đáy tại hồ Steel ở Mỹ, ta phát hiện nó trùng và gối lên lượng C-14 trong các vân tuổi, nghĩa là 4000 lớp cũng tương đương 4000 năm.

Hai mẫu lõi trầm tích đáy hồ, cứ 2 vạch một đen một trắng đại diện cho một lớp trầm tích.

Trước khi chúng ta đi tiếp, đức tin có ủng hộ vụ này không? Kinh Thánh thì không nói gì cụ thể lắm về khoa học nguyên tử hay định tuổi, nhưng chúng phù hợp với các di sản của Ki-tô Giáo. Lượng C-14 tìm thấy trong mảnh gỗ đường hầm ở Jerusalem, được cho là do Hezekiah xây dựng, tương đương với lượng trong vân tuổi số 2700, điều này đặt nó trùng khớp với độ tuổi dự kiến theo Kinh Thánh khi và chỉ khi mỗi vân là một năm. Hơn thế nữa, còn trường hợp sách Isaiah trong Các Cuộn Biển Chết. Isaiah 53 miêu tả Chúa Jesus chi tiết đến nỗi các nhà phê bình đã cho rằng nó được viết sau thời của Chúa. Nhưng lượng C-14 trong các cuộn sách ấy lại bằng hoặc thấp hơn lượng trong vân tuổi số 2100, nghĩa là C-14 đã xác nhận tính chất lịch sử và tiền-Jesus của Các Cuộn Biển Chết.

Vậy nếu chúng ta có thể tìm được một cái hồ khác có số lớp nhiều hơn nữa, biểu đồ nối dài sẽ cho ta biết tình hình C-14 trong quá khứ. Chúng ta có thể dùng logic thông thường và kiến thức thời còn mài đũng quần để tự hình dung biểu đồ phải như thế nào trong các trường hợp: a) Các lớp đáy được tạo ra chỉ trong một năm; b) Lượng C-14 ngày xưa nhiều hơn; c) Lượng C-14 ngày xưa ít hơn HOẶC tốc độ phân rã ngày xưa nhanh hơn; d) Đại hồng thủy làm lượng C-14 được tạo ra nhảy loạn xạ.

Và quả thật là có một cái hồ như vậy, tên Suigetsu, ở Nhật. Năm 1991 ta thu thập được một lõi trầm tích dài 76 m cho thấy hơn 100,000 lớp không ngắt quãng. Kết quả:

Vẫn là như vậy, thẳng tưng. Đường thẳng này cho ta hai lựa chọn:

Lựa chọn 1: 50,000 lớp tương đương 50,000 năm, và vì hồ Suigetsu có ít nhất 100,000 lớp, lịch sử Trái Đất cũng phải kéo dài ít nhất 100,000 năm. Và không có một trận Đại hồng thủy toàn cầu.

Lựa chọn 2: Chúa Trời ban đầu điều khiển tốc độ phân rã C-14 cực nhanh, và hàng tá lứa tảo silic nở hoa và chết đi để tạo ra nhiều lớp đáy ao một năm, nhưng rồi sau đó kéo chậm hai quá trình độc lập này một cách có chủ ý và vô cùng chính xác sao cho chúng trông y như xác nhận sự đúng đắn của phương pháp định tuổi C-14 và đếm lớp đáy (và lớp băng và hóa thạch và đồng vị phóng xạ Uranium cùng bè bạn v.v)

Hai tác giả của bài này viết: “Chúng tôi lí luận với niềm tin sắt đá rằng Lựa chọn thứ 2 không phản ánh đúng Chúa Trời của Vua David, người đã tuyên bố rằng “Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” (Thánh Thi 19:1), cũng không phải Chúa Trời của Sứ đồ Phao-lô, người đã phát biểu rằng “bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bổn tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy, khi người ta xem xét công việc của Ngài” (Rô-ma 1:20). Vậy, nếu thế giới kể một câu chuyện lịch sử, thì chúng tôi tin rằng tác phẩm của Chúa Trời nói sự thật, và lịch sử ấy là có thật.”

Và trong trường hợp bạn nghĩ rằng những nhà tiến hóa hữu thần hay các tín đồ chấp nhận tiến hóa hiện nay chối bỏ đại hồng thủy toàn cầu là xuất phát từ việc đã bị nhồi sọ quá kỹ về tiến hóa do lớn lên trong thế giới hiện đại suy đồi và thụ hưởng một nền giáo dục phi tôn giáo, bạn cần biết cái gọi là môn “địa chất nghiên cứu đại hồng thủy (flood geology)” thật ra đã bị các nhà khoa học (theo sáng tạo luận đấy) từ bỏ từ những năm 1800 hồi đó, trước cả khi Darwin công bố Nguồn Gốc Các Loài (1859).

Đức Cha William Buckland (Trưởng Khoa Địa chất của Oxford)

Đức Cha Adam Sedgwick (Trưởng Khoa Địa chất của Cambridge)

Đức Cha Edward Hitchcock (giảng dạy Thần học & Địa chất tại Amherst College, Massachusetts)

Louis Agassiz (nhà sinh học nổi tiếng chống tiến hóa nhiệt thành tôi đã từng vài lần đề cập)

John Pye Smith (Đứng đầu trường Homerton Divinity College)

Hugh Miller (nhà địa chất tự học, và biên tập tờ báo của Giáo hội Tự do Scotland) và,

Ngài John William Dawson (nhà địa chất kiêm cổ sinh, một tín đồ được nuôi dưỡng bởi cha mẹ tôn giáo bảo thủ, người duy nhất từng lãnh đạo ba tổ chức địa chất danh giá nhất Anh & Mỹ).

Không ai trong số này là người theo thuyết tiến hóa.

Không ai trong số này trở thành người theo thuyết tiến hóa.

Tôi luôn phì cười khi người chống tiến hóa cố gắng tiếp thị sáng tạo luận và địa chất Đại hồng thủy như những ý tưởng cách mạng, miêu tả cứ y như đoạn quảng cáo 1984 tuyệt đẹp của Apple: nàng vận động viên đầy sức sống bị truy đuổi bởi lực lượng cảnh vệ – đại diện cho những kẻ giáo điều và bảo thủ của khoa học ngày nay – dứt khoát ném cây búa sự thật thẳng vào bộ máy tẩy não của Big Brother là thuyết tiến hóa. Nhưng thực tế là ngược lại, sáng tạo luận mới chính là Big Brother. Sáng tạo luận không phải chưa từng có cơ hội được xem xét nghiêm túc do sự kiểm duyệt và bưng bít của tín đồ tiến hóa, mà nó đã từng là ý tưởng chính thống, nghiễm nhiên đúng của số đông. Nhưng khi Darwin tung ra Nguồn Gốc Các Loài (1859), thì chính đội cảnh vệ – là các nhà khoa học vốn tin vào Chúa Trời (và sau đó vẫn tin vào Chúa Trời) – đã tự nguyện buông bỏ Big Brother, vì sự công minh thiêng liêng của khoa học.

Trong và sau cuộc cách mạng công nghiệp (1760 – 1840), bề mặt Trái Đất đã được thăm dò, cày xới, khoan, đục để phục vụ cho việc đào mỏ, khai thác khoáng sản và xây dựng trên một phạm vi chưa từng có trong lịch sử. Các tiến bộ về lĩnh vực giao thông cho phép các nhà khoa học đi đến những vùng đất xa xôi và hiểm trở dễ dàng hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh đó, các nhà khoa học được tận hưởng sự bùng nổ dữ kiện và thông tin mà công cuộc khai phá và máy móc hóa đã khui mở từ lòng đất, bụng núi, họng vực và đáy đại dương. Và Cột Địa chất toàn cầu chính là thành tựu cả đời tận tụy của các nhà địa chất hữu thần ấy. Họ đã bỏ tư duy Trái Đất trẻ hay Đại hồng thủy, không phải vì chủ nghĩa vô thần lên ngôi, không phải vì lo sợ bị “phe” tiến hóa còn chưa ra đời trù dập, không phải vì thù ghét Chúa Trời… mà là vì những kiến thức mới mâu thuẫn với giả thuyết cũ. Họ không bỏ đạo, họ bỏ những cách hiểu sai.

N

Hiện trạng khoa học ngày nay là hạ hồi của hành vi nổi loạn ấy, và của cuộc cách mạng lớn hơn lật đổ các Big Brother đã kìm hãm nghiên cứu suốt hàng trăm năm, chứ không phải phần mở màn. Sáng tạo luận & địa chất Đại hồng thủy đã qua thời hoàng kim, đã được thử thách và thất bại, và càng thất bại nặng hơn với những gì chúng ta biết ngày nay. Hãy cứ để chúng yên nghỉ, vì Chúa!


***

Rất nhiều lần, những người theo phái Trái Đất trẻ gọi các nhà tiến hóa hữu thần là những phản đồ, những người do dự – niềm tin không đủ lớn, những kẻ thỏa hiệp v.v nhưng cá nhân tôi thấy họ mới là những môn đệ có đức tin sắt đá nhất. Họ tin tuyệt đối rằng Thiên Chúa là tác giả tối thượng của vạn vật, nên những kiến thức ta có về vũ trụ không thể đe dọa đến Ngài và cách hiểu đúng về lời Ngài không thể mâu thuẫn với kiến thức ta có về vũ trụ. Chính vì thế họ mới dám ngẩng cao đầu chào đón khoa học, bước vào khoa học và cập nhật diễn giải của mình theo những phát hiện mới nhất của khoa học. Là một tín đồ, lá gan của bạn to đến cỡ nào mà dám cho rằng Thiên Chúa không thể nghĩ ra cách thử lòng con cái mình ngoài làm giả hiện trường? Sự ngạo mạn của bạn cao đến cỡ nào mà nghĩ rằng Thiên Chúa cần bạn nói dối không chớp mắt, chọn lọc và làm khống số liệu, xuyên tạc các phát biểu… để bảo vệ Ngài? Đức tin của bạn mong manh tới mức nào mà bạn phải chối bỏ và dìm hàng khoa học để có thể tiếp tục tin tưởng? Chẳng lẽ trong thâm tâm bạn nghĩ rằng không thể phát dương chân lý bằng chân lý sao?

 

 

EvoLit đã nói về Thiên Chúa đủ nhiều. EvoLit không phải là một trang về tôn giáo, chỉ dám lạm bàn chút đỉnh về những phần hay được dùng để tấn công trực tiếp đến thuyết tiến hóa, vì không tránh né mãi được (âu cũng do các bạn ấy đã gõ cửa rồi ^^). Ở những phần sau của loạt bài Bàn Về Nhà Thiết Kế của tác giả Logic Mafia, ta sẽ chỉ phân tích Nhà Thiết Kế như một chủ thể có trí tuệ không xác định, đúng như tuyên bố của phái Thiết kế Thông minh, ID, rằng đề xuất này là phi tôn giáo và thuần túy khoa học.

Các tuyên bố của Catholic.com & BioLogos


“The Catholic Church does not prohibit interpretations of Genesis 6-8 that include a worldwide flood, but neither does the Church require there to be a worldwide flood in all interpretations of these passages. Instead, Catholic theologians understand the first eleven chapters of Genesis contain, in the words of Pope Pius XII, “simple and metaphorical language adapted to the mentality of a people but little cultured, both state the principal truths which are fundamental for our salvation, and also give a popular description of the origin of the human race and the chosen people” (Humani Generis, 38).”  Catholic.com

“Just as the Creation story communicated spiritual truths about God and the significance of humanity through figurative language, the story of Noah’s flood in Genesis 6–8 (as well as the Tower of Babel in Genesis 11) uses similar language to communicate truths about God’s attitude toward sin and redemption. The fact that the author chose to model his stories after existing narratives and literary conventions does not disprove the message he was communicating: that it was the true God and not any of his pagan competitors who intervened to save the survivors of the flood that devastated the land.”Catholic.com

“It was common practice in the ancient world to use an event (or memory of an event) and retell it in a figurative way to communicate a message to the hearers. There is good scriptural and historical evidence that the Flood story is an interpretation of an actual historical event retold in the rhetoric and theology of ancient Israel.The Genesis account is one of many stories of catastrophic floods in the ancient world, including the Babylonian epic of Gilgamesh, which bears striking similarities to the story of the Flood. This doesn’t mean that Genesis 6-9 is borrowed from the stories of other cultures, but that it is based on a common cultural memory of a watery cataclysm. The exact nature or date of this historical flood is not important to the meaning of the Genesis account, however, because the purpose of the biblical story is not to give a list of facts about that flood, but to communicate a message about God and humanity to the original hearers (and, by the power of the Holy Spirit, to all God’s people throughout history).” Biologos.org

“The Genesis Flood story contains many literary clues that its writers (and original audience) were not intended to narrate an actual series of events. The story employs the literary device known as “hyperbole” throughout, describing a massive ark which holds representatives of “every living creature on Earth”, and a flood which flows over the tops of the highest mountains in the world. These are not meant to challenge readers to figure out the practicality of such descriptions, but rather they are important clues that we are dealing with a theological story rather than ancient journalism.” Biologos.org

http://www.godofevolution.com/did-jesus-believe-in-a-six-day-creation-and-a-literal-adam/

http://www.godofevolution.com/when-biblical-literalists-arent-really-biblical-literalists/

 

7 Comments

  1. kinh thánh là thuyết “tào lao” nhất. Khi họ tin vào thần thánh thì mọi thứ khác đều sai (nếu đi ngược với kinh thánh).
    Đọc các bài viết của Evolit tôi thấy rất hay và có logic. Chúc bạn luôn vui!

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s